Bản án: số 72 ngày 31/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hà Nội, TP. Hà Nội (08.04.2026)

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 9-HÀ NỌI Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc Bản án số: 72/2025/ST-DS Ngày 31 - 12 - 2025 V/v tranh chấp BTTH ngoài HĐ NHÂN DANH NƯỚC CỌNG HÒA XÃ HỌI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9-HÀ NỘI - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phản - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa và ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9-Hà Nội. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Mỹ Dung, Kiểm sát viên Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9-Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1975, CCCD: 026075002690 Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt Bị đơn: Ông Ngô Xuân C, sinh năm 1975, CCCD: 001075023086 Địa chỉ: Thôn Y, xã P, thành phố Hà Nội. Vắng mặt Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1957, CCCD: 027057000232; địa chỉ: Số A Đường T, phường H, thành phố Hà Nội. Có mặt mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1976, CCCD: 026176002519 Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt 2. Ủy ban nhân dân xã L, tỉnh Phú Thọ Địa chỉ: Xã Liên Châu, tỉnh Phú Thọ Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hải Đ1, Chủ tịch UBND. Vắng 3. Ông Ngô Gia L, sinh năm 1960 Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt 1 NỌI DUNG VỤ ÁN: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là ông Nguyễn Duy Đ trình bày: Năm 2010, vợ chồng ông Đ bà Ngô Thị T1 thuê lại lô đất số 20 (khoảng 04 mẫu) khu bãi cát, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc của bà Nguyễn Thị T2 (do bà T2 trúng thầu thuê đất của UBND xã Đ) để trồng cây chuối, cây táo, trồng sắn, còn trồng cây xoan làm bờ rào xung quanh lô đất. Vợ chồng ông Đ trồng cây cối, hoa màu trên lô đất này cho đến tháng 02/2017 thì xã thông báo trên loa truyền thanh: Ông Ngô Xuân C (ở P, Hà Nội) trúng thầu nhiều lô đất khu bãi cát xã Đ trong đó có lô đất số 20 mà vợ chồng ông Đ đang thuê lại của bà T2 chứ bà T2 hay UBND xã Đ không thông báo gì với vợ chồng ông Đ về việc này. Khoảng ngày 21/6/2017, ông Ngô Xuân T3 là Trưởng thôn kiêm Bí thư chi bộ thôn T, xã Đ đến nhà ông Đ nói: Nó phá hết cây cối của mày rồi. Bà Ngô Thị T1 chạy luôn ra lô đất số 20 thì thấy 01 máy xúc đang đào gốc các cây chuối, cây táo cho lên 01 công nông mang đổ đi. Xe công nông chạy làm nát hết các cây sắn mới trồng (cao khoảng 30cm). Bà T1 nói không được đào múc cây cối của gia đình thì người lái máy xúc bảo họ chỉ là người làm thuê, không biết gì khác và họ tiếp tục đào múc cây trên lô đất số 20. Do bị phá cây cối hoa màu, các hộ đấu thầu kỳ trước các lô đất khu bãi cát gửi đơn đến Công an huyện Y yêu cầu giải quyết. Sáng ngày 22/6/2017, Công an huyện Y đã đến hiện trường lập biên bản về việc các hộ dân bị phá cây cối hoa màu, trong đó có gia đình ông Đ. Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ cùng ông Đ đến lô đất số 20 tiến hành kiểm đếm, đo đạc số lượng, diện tích cây cối hoa màu của ông Đ bị ông C phá và lập biên bản vào các ngày 22, 23 và 24/6/2017 có xác nhận của Công an huyện, công an xã và các hộ gia đình bị thiệt hại. Tại Biên bản thống kê thiệt hại về cây trồng và hoa màu ngày 24/6/2017 thể hiện, gia đình ông Đ bị thiệt hại gồm: 178 cây xoan có kích thước khác nhau (bị đào múc, bung rễ khỏi mặt đất) theo Biên bản thống kê, đo tỉ lệ ngày 22/6/2017; 144 gốc táo trồng từ năm 2009; 3.600m² cây chuối trồng từ năm 2009 và 2.160m2 cây sắn trồng từ tháng 02/2017. Đến khoảng tháng 11/2017, UBND xã Đ mời các hộ gia đình bị ông C phá hỏng cây cối, hoa màu đến thông báo giá trị thiệt hại qui thành tiền và trả tiền bồi thường nhưng tất cả các hộ gia đình đều không đồng ý với giá mà UBND xã Đ định giá và đều không nhận tiền bồi thường, vì giá trị thực tế bị thiệt hại cao hơn nhiều so với giá mà UBND xã Đ định giá. Theo ông Đ, tổng thiệt hại của gia đình ông theo giá thị trường tại địa phương tại thời điểm bị thiệt hại là 392.000.000đồng. Toàn bộ cây cối, hoa màu bị thiệt hại là công sức của ông Đ và bà T1, không ai khác đóng góp cùng. 2 Tại đơn khởi kiện ban đầu, ông Đ yêu cầu UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, ông Ngô Gia L (nguyên Chủ tịch UBND xã Đ) và ông Ngô Xuân C phải liên đới bồi thường thiệt hại cho vợ chồng ông Đ tổng số tiền là 392.000.000đồng (ba trăm chín hai triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu UBND xã Đ và ông Ngô Gia L phải bồi thường mà chỉ yêu cầu ông Ngô Xuân C phải bồi thường toàn bộ thiệt hại trị giá 392.000.000đồng. bày: Bị đơn là ông Ngô Xuân C (do ông Nguyễn Đăng T đại diện) trình Năm 2017, ông Ngô Xuân C đăng ký đấu thầu và trúng thầu 10 lô đất (từ lô số 18 đến lô số 27) khu bãi cát xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Các lô đất ông C trúng thầu là các lô đất mà 06 hộ dân đang trồng cây cối, hoa màu trước đó, gồm: Hộ ông Nguyễn Duy Đ, ông Văn Khắc T4, ông Nguyễn Đức C1, ông Văn Danh T5, ông Nguyễn Minh C2 và ông Nguyễn Duy Đ2. Ngày 16/03/2017, ông C ký Hợp đồng giao thầu sản xuất đất bãi cát chu kỳ 2017-2020 với UBND xã Đ với tổng giá trị hợp đồng là 136.873.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông C tiến hành chôn cọc bê tông, chăng dây thép gai phân định mốc giới các lô đất trúng thầu; đồng thời dùng máy xúc san ủi mặt bằng, thu dọn các loại cây trồng trên đất nhận thầu để cải tạo sử dụng đất cho mục đích sản xuất theo hợp đồng đã ký. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 28/06/2017, Chủ tịch UBND huyện Y, Tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Quyết định số 2687/QĐ-UBND thanh tra việc quản lý, sử dụng đất bãi cát năm 2016-2017 đối với UBND xã Đ (trong đó có các lô đất nhận thầu của ông Ngô Xuân C). Căn cứ Biên bản thống kê xác định thiệt hại lập ngày 22, 23, 24 tháng 6 năm 2017 của Công an huyện Y và Công an xã Đ với 06 hộ dân (trong đó có hộ ông Đ) thì ông C phải hỗ trợ, bồi thường cho 06 hộ dân với số tiền 46.893.845 đồng (trong đó hộ ông Đ là 38.580.000 đồng). Ông C đã nộp số tiền này cho UBND xã Đ. Ông Đ khởi kiện yêu cầu ông C phải bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 392.000.000đồng, quá trình điều tra, ông C chỉ đồng ý bồi thường thiệt hại cho ông Đ theo giá mà Hội đồng định giá tài sản đã định giá ngày 28/11/2025 là 66.450.000đồng, không đồng ý với giá mà ông Đ yêu cầu. Tại phiên tòa, người đại diện của ông C không đồng ý bồi thường cho ông Đ mà chỉ hỗ trợ cho ông Đ số tiền 38.580.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại diện của ông C đề nghị UBND xã L, tỉnh Phú Thọ (xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cũ) trả lại cho ông C số tiền 46.893.845 đồng mà ông C đã nộp cho UBND xã Đ năm 2017 để ông C hỗ trợ cho ông Đ. 3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Ngô Thị T1 trình bày: Bà T1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Đ. Toàn bộ cây cối, hoa màu bị thiệt hại là công sức của ông Đ và bà T1, không ai khác đóng góp cùng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã Đ (nay là xã L) trình bày: Ông Nguyễn Duy Đ không phải là người trúng thầu lô 20 đất bãi cát, xã Đ năm 2015 mà người trúng thầu là bà Nguyễn Thị T2. Bà T2 thầu lô số 20 từ năm 2013 đến hết năm 2015 và đã thanh lý hợp đồng với UBND xã Đ ngày 05/01/2016. Từ năm 2016 đến đầu năm 2017, lô đất số 20 không có người thầu cũng như không ai nộp tiền thầu cho UBND xã Đ. Năm 2017, ông Ngô Xuân C trúng thầu 10 lô đất khu bãi cát, xã Đ (trong đó có lô số 20). UBND xã Đ chưa bàn giao các lô đất ông C trúng thầu tại thực địa nhưng ông C đã giải phóng mặt bằng các lô đất trúng thầu (trong đó có lô số 20) gây thiệt hại cây cối, hoa màu cho các hộ dân. Việc ông Đ thầu lại lô đất số 20 của bà T2, UBND xã không biết. Đến khi Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ biên bản xác định thiệt hại của các hộ dân bị ông C gây thiệt hại cây cối, hoa màu và ông Đ đến kê khai thì xã mới biết. Căn cứ Biên bản thống kê xác định thiệt hại lập ngày 22, 23, 24 tháng 6 năm 2017 của Công an huyện Y và Công an xã Đ với 06 hộ dân (trong đó có hộ ông Đ) thì ông C phải hỗ trợ, bồi thường cho 06 hộ dân với số tiền 46.893.845 đồng (trong đó hộ ông Đ là 38.580.000 đồng). Ông C đã nộp số tiền này cho UBND xã Đ. UBND xã đã mời các hộ dân bị ông C gây thiệt hại nhận tiền hỗ trợ, bồi thường nhưng không ai nhận. Vì vậy, UBND xã đã gửi toàn bộ số tiền 46.893.845 đồng vào Kho bạc Nhà nước và tiếp tục vận động các hộ dân đến nhận tiền bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Gia L trình bày: Ông Nguyễn Duy Đ không phải là người trúng thầu lô 20 đất bãi cát, xã Đ năm 2015 mà người trúng thầu là bà Nguyễn Thị T2. Bà T2 thầu từ năm 2013 đến hết năm 2015 và đã thanh lý hợp đồng với UBND xã Đ ngày 05/01/2016. Từ năm 2016 đến đầu năm 2017, lô đất sô 20 không có người thầu cũng như không ai nộp tiền thầu cho UBND xã Đ. Ông Ngô Xuân C thuê người dùng máy múc chặt hạ cây cối, hỏng nát hoa màu tại lô đất số 20. Theo vợ chồng ông Đ trình bày, tài sản bị thiệt hại là của vợ chồng ông Đ nên ông C phải bồi thường thiệt hại cho vợ chồng ông Đ. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các bên không đạt được thỏa thuận. Tại phiên tòa, ông Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Hà Nội phát biểu ý kiến: 4 Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án, Hội đồng xét xử và đương sự thực hiện đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung: Căn cứ Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét x : Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông Nguyễn Duy Đ: Buộc ông Ngô Xuân C phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đ số tiền 66.450.000đồng. Ông Ngô Xuân C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Đ phải chịu án phí đối với phần yêu cầu bồi thường không được chấp nhận. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1]. Đối với việc UBND xã Đ cho đấu thầu các lô đất khu bãi cát, xã Đ: Tại Kết luận thanh tra số 1346/KL-UBND ngày 26/10/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Y về việc quản lý, sử dụng đất bãi cát năm 2016, năm 2017 của UBND xã Đ, kết luận: UBND xã Đ cho các hộ dân không ở tại địa phương tham gia đấu thầu và được giao thầu đất sản xuất là không đúng với quy định tại khoản 3 Điều 132 của Luật đất đai năm 2013. Hủy bỏ toàn bộ kết quả đấu thầu, giao thầu và các hợp đồng đã ký về giao thầu đất chu kỳ sản xuất 2017-2020 giữa UBND xã Đ với tất cả các chủ thầu (BL 14). [2]. Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Đ: Lô đất số 20 khu bãi cát, xã Đ của chu kỳ sản xuất trước năm 2016 do bà Nguyễn Thị T2 trúng thầu với UBND xã Đ nhưng bà T2 không trực tiếp sử dụng lô đất này mà cho vợ chồng ông Nguyễn Duy Đ thầu lại nhưng không báo cáo với UBND xã Đ nên xã không biết. Vợ chồng ông Đ bà T1 là người trồng cây cối trên lô đất số 20 chu kỳ sản xuất trước năm 2016. Ngày 05/01/2016, UBND xã Đ và bà Nguyễn Thị T2 cùng lập Biên bản thanh lý hợp đồng thầu sản xuất đất bãi cát chu kỳ 2013-2015 (BL 40). Vì vậy, kể từ ngày 06/01/2016, bà Nguyễn Thị T2 không còn liên quan gì đến lô đất số 20 cả về hợp đồng thầu sản xuất cũng như cây trồng trên đất. Chu kỳ thầu sản xuất đất bãi cát 2016-2017, không có ai thầu lô số 20 khu bãi cát, xã Đ và cũng không có ai nộp nộp tiền thầu cho UBND xã Đ (BL 46). Như vậy, vợ chồng ông Đ bà T1 trồng cây trên lô đất số 20 khu bãi cát, xã Đ chỉ là tăng gia trên đất trống của UBND xã Đ quản lý. Chu kỳ thầu sản xuất đất bãi cát 2017-2020, ông Ngô Xuân C trúng thầu 10 lô đất (từ lô số 18 đến lô số 27) khu bãi cát xã Đ. Sau khi ký hợp đồng, UBND xã Đ chưa bàn giao trên thực địa các lô đất ông C trúng thầu nhưng ông C đã tiến hành chôn cọc bê tông, chăng dây thép gai phân định mốc giới các lô 5 đất trúng thầu; đồng thời dùng máy xúc san ủi mặt bằng làm hư hại các loại cây trồng của các chủ thầu chu kỳ thầu trước, trong đó có lô đất số 20. Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ cùng ông Đ đến lô đất số 20 tiến hành kiểm đếm, đo đạc số lượng, diện tích cây cối hoa màu của ông Đ bị ông C gây thiệt hại và lập biên bản vào các ngày 22, 23 và 24/6/2017 có xác nhận của Công an huyện, công an xã và các hộ gia đình bị thiệt hại (BL 77). Tại Biên bản thống kê thiệt hại về cây trồng và hoa màu ngày 24/6/2017, gia đình ông Đ bị thiệt hại gồm: 178 cây xoan có kích thước khác nhau (bị đào múc, bung rễ khỏi mặt đất) theo Biên bản thống kê, đo tỉ lệ ngày 22/6/2017; 144 gốc táo trồng từ năm 2009; 3.600m² cây chuối trồng từ năm 2009 và 2.160m² cây sắn trồng từ tháng 02/2017 (BL 78). Như vậy, có căn cứ xác định trên lô đất số 20, vợ chồng ông Đ bà T1 bị ông Ngô Xuân C gây thiệt hại các tài sản nêu trên. Căn cứ Kết luận thanh tra số 1346/KL-UBND ngày 26/10/2017 của Uy ban nhân dân huyện Y về việc quản lý, sử dụng đất bãi cát năm 2016, năm 2017 của UBND xã Đ (BL 13), UBND xã Đ đã lập bảng tính bồi thường thiệt hại hoa màu khu vực bãi cát năm 2017, trong đó, hộ ông Nguyễn Duy Đ được bồi thường thiệt hại số tiền 38.580.000đồng. Ông Đ không đồng ý với giá bồi thường thiệt hại của UBND xã Đ nên đã khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu UBND xã Đ, ông Ngô Gia L và ông Ngô Xuân C phải liên đới bồi thường thiệt hại cho vợ chồng ông Đ tổng số tiền là 392.000.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu UBND xã Đ và ông Ngô Gia L phải bồi thường mà chỉ yêu cầu ông Ngô Xuân C phải bồi thường toàn bộ thiệt hại trị giá 392.000.000đồng. Ngày 28/11/2025, Hội đồng định giá tài sản đã định giá toàn bộ tài sản của ông Đ bà T1 bị thiệt hại theo giá thị trường là 66.450.000đồng. Ông Đ không đồng ý với giá của Hội đồng định giá mà cho rằng giá thực tế tài sản bị thiệt hại của vợ chồng ông cao hơn so với giá của Hội đồng định giá nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho ý kiến của mình, nên Tòa án không có căn cứ để xem xét. Do đó, xác định ông Ngô Xuân C gây thiệt hại về tài sản của ông Đ bà T1 có giá trị 66.450.000đồng. Buộc ông Ngô Xuân C phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đ và bà T1 số tiền 66.450.000đồng. [3]. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu UBND xã Đ và ông Ngô Gia L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đ. Xét thấy, việc ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phủ hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. 6 [4]. Tại phiên tòa, người đại diện của ông Ngô Xuân C đề nghị UBND xã L, tỉnh Phú Thọ (xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cũ) trả lại ông C số tiền 46.893.845đồng mà năm 2017, ông C đã nộp cho UBND xã Đ để bồi thường cho các hộ dân bị ông C gây thiệt hại cây cổi nhưng các hộ dân không nhận, đê ông C lấy tiền hỗ trợ cho ông Đ. Xét thấy, năm 2017, ông C đã đồng ý và tự nguyện nộp số tiền 46.893.845đồng cho UBND xã Đ để bồi thường cho các hộ dân bị thiệt hại, đây là quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật mà Tòa án giải quyết trong vụ án này. hơn nữa, số tiền ông C nộp cho UBND xã Đ để bồi thường cho các hộ dân bị thiệt hại chứ không phải chỉ bồi thường cho hộ ông Đ. Vì vậy, Tòa án không giải quyết đồng thời trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện đổi với ông C bằng vụ án dân sự khác nếu có tranh chấp. [5]. Về án phí: Ông Ngô Xuân C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Duy Đ phải chịu án phí đối với số tiền yêu cầu không được chấp nhận. Vì các lẽ trên, QUYÉT ĐỊNH: Áp dụng Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử: 1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Đ đối với bị đơn là Ủy ban nhân dân xã Đ và ông Ngô Gia L về việc yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ) và ông Ngô Gia L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Duy Đ. 2. Chấp nhận một phần yêu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Đ khởi kiện ông Ngô Xuân C tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản. Buộc ông Ngô Xuân C phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Nguyễn Duy Đ và bà Ngô Thị T1 số tiền 66.450.000₫ (sáu mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). 3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì còn phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo sự thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. 4. Về án phí: Ông Ngô Xuân C phải chịu 3.322.000₫ (ba triệu ba trăm hai mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Duy Đ phải chịu 16.277.000₫ (mười sáu triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 9.805.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 005479 ngày 13/12/2019 của Chỉ cục Thi hành án dân sự huyện Yên 7 Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Ông Đ còn phải nộp tiếp số tiền 6.472.000₫ (sáu triệu bốn trăm bảy hai nghìn đồng). 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Các đương sự được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. 6. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. CÁC HỌI THẢM THẢM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ 8 Hoàng Đức Hiếu Nơi nhân: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND khu vực 9-Hà Nội; - THADS thành phố Hà Nội; - Các đương sự: - Lưu hồ sơ. TM. HỘI ĐÒNG XÉT XỬ THẢM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ 9 Hoàng Đức Hiếu


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét