NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: 

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: 

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Bạch H nộp trong hạn luật định, phù hợp quy định Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm. 7 Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Vĩnh Long có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. 

[2] Xét kháng cáo của ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Bạch H: 

  • [2.1] Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 187 và thửa 428 của ông N và bà H, do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực 21 - Vĩnh Long cung cấp thể hiện: Thửa đất số 187, tờ bản đồ số 8 do ông N và bà H nhận chuyển nhượng từ ông Từ Văn H2 và bà Trần Thị Kiều Nhụy T3 vào ngày 10/11/2011, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011 và cấp đổi vào năm 2013. Thửa đất số 428, tờ bản đồ số 8, do ông N và bà H nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Thanh H3 và bà Nguyễn Thị H4 vào ngày 13/10/2022, được cập nhật chỉnh lý sang tên cho ông N, bà H trên giấy chứng nhận vào năm 2022. 
  • [2.2] Căn cứ nguồn gốc thửa 187 trước đây là thửa 3574 đã được đo đạc vào năm 2009, theo bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 07/10/2009 thể hiện đã tồn tại một đường đất giáp ranh với một phần thửa 2220, tờ bản đồ số 1 (nay là thửa 187, tờ bản đồ số 8 – bút lục 145). Khi đo đạc để cấp đổi thửa đất của ông N vào năm 2012 thì kết quả đo đạc địa chính thể hiện thửa 187, tờ bản đồ số 8, diện tích 585,5m2 ở cạnh 5-6, 6-1 giáp với đường đi, được người sử dụng đất là ông Võ Văn N ký tên thống nhất (bút lục 133). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa 187 được cấp cho ông N, bà H không bao gồm phần diện tích đất thuộc đường đi nêu trên. Theo hồ sơ đo đạc và bản đồ địa chính, đường đi thể hiện trên bản đồ, không nằm trong phần diện tích quyền sử dụng đất cấp cho ông N, bà H và cũng không cấp cho cá nhân nào. 
  • [2.3] Đối với thửa 428, theo trích lục bản đồ địa chính ngày 04/10/2019 (bút lục 165) có cạnh phía Đông của thửa đất giáp với đường giao thông nông thôn. Tại bản trích lục bản đồ địa chính ngày 17/12/2021, cạnh phía Đông của thửa đất giáp đường xã, đường liên xã (bút lục 160). Tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 14/9/2019, thể hiện tiếp giáp với thửa 159 do Ủy ban nhân dân xã S quản lý (bút lục 169, 171). 
  • [2.4] Như vậy, căn cứ hiện trạng sơ đồ địa chính thể hiện thửa đất số 187 và 428 không giáp ranh nhau, giữa hai thửa đất có một đường giao thông đã tồn tại ổn định; thể hiện trong bản đồ địa chính, diện tích của quyền sử dụng đất đường đi đang tranh chấp cũng không thuộc quyền sử dụng được cấp cho ông N, bà H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N 8 và bà H về việc cho rằng phần đất các bị đơn đang sử dụng làm đường đi là xâm phạm quyền sử dụng đất của nguyên đơn và yêu cầu buộc các bị đơn phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất là có căn cứ, phù hợp quy định Điều 5, Điều 11 Luật Đất đai năm 2024. Xét việc ông N, bà H mở đường đi mới là do ông N tự thực hiện, trước đây việc ông N tự mở đường đi được sự chấp nhận của Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre theo thông báo số 34/TB-UBND ngày 22/02/2021 nhưng thông báo số 34 nêu trên đã bị thu hồi hủy bỏ theo quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 27/4/2021 của Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre. Ngoài ra, đường đi mới ông N mở trên thửa đất 428 chỉ có một số hộ dân đồng ý, không được sự đồng thuận của các bị đơn nên không thể làm căn cứ bắt buộc các bị đơn phải sử dụng đường đi trên thửa đất 428 do nguyên đơn tự mở và đường đất các bị đơn đang sử dụng thể hiện trên bản đồ địa chính là đường đất, không thuộc quyền sử dụng đất cấp cho ông N và bà H. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, bà H về việc buộc các bị đơn phải chuyển sang sử dụng lối đi mới do nguyên đơn tự tạo lập trên thửa 428 và yêu cầu đòi bồi thường chi phí xây dựng 152.0250.000 đồng là có căn cứ phù hợp quy định Điều 5, Điều 11 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015. 
  • [2.5] Căn cứ kết quả đo đạc ngày 01/8/2025 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai khu vực 21-Vĩnh Long cung cấp thể hiện phần bức tường xây có ký hiệu (4), diện tích 1,1m2 , có kết cấu trụ, đà bê tông cốt thép, thành xây gạch dày 20cm và 10cm do ông N xây thuộc đường giao thông và hiện do các bị đơn đang sử dụng đường đi này, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm ông N và bà H tự tháo dỡ di dời bức tường nêu trên và các bị đơn không phải bồi hoàn, hỗ trợ chi phí tháo dỡ là phù hợp quy định Điều 173 của Bộ luật Dân sự năm 2015. 

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N và bà H có yêu cầu triệu tập người làm chứng là ông Nguyễn Thanh H3 và ông Nguyễn Văn Á nhưng lời của ông H3 và ông Á tại phiên tòa đều trình bày đường đi các bị đơn đang sử dụng đã có từ rất lâu, không xác định đường đi có khi nào nhưng ông H3 và ông Á còn nhỏ tuổi đã sử dụng đường đi này cho đến khi ông N mở lối đi mới trên thửa 428; lời khai ông H3 và ông Á cũng không có cơ sở xác định phần đất đường đi các bị đơn sử dụng thuộc quyền sử dụng đất của ông N, bà H hay cá nhân nào khác. Ngoài ra, ông N và bà H cũng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông N và bà H.  

[4] Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất không chấp nhận kháng cáo của ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Bạch H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 98/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực H-Vĩnh Long. 

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do kháng cáo của ông N và bà H không được chấp nhận nên ông bà phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Phát biểu của Trợ giúp viên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H1 phù hợp quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận. 

[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phù hợp với nhận định trên có căn cứ chấp nhận. [8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét