NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu nội dung đơn kháng cáo của bị đơn Huỳnh Thị L; căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu mở lại lối đi từ thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17 tọa lạc tại Thôn G, xã T ra đường Đ, buộc phải di dời, tháo dỡ vật, công trình xây dựng để trả lại đất làm lối đi nên đây là vụ án “Tranh chấp về lối đi”. Bị đơn và bất động sản đều có địa chỉ tại Thôn G, xã T, tỉnh Lâm Đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Lâm Đồng theo quy định tại Điều 35, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: người kháng cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo nhưng trong phạm vi kháng cáo nên Hội đồng xét xử xem xét theo quy định tại Điều 298 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu mở lại lối đi của ông Huỳnh H:
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 292015 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 19/10/1998; bản đồ 299 (đo đạc địa chính theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980), lời khai thống nhất của các đương sự; kết quả xác minh những người làm chứng sinh sống xung quanh khu vực lối đi, xác định: ông Huỳnh H sử dụng thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17 từ năm 1966, vị trí thửa đất không tiếp giáp đường giao thông trục chính (là đường ĐT 720 hiện nay), để kết nối với đường giao thông, có lối đi dẫn từ thửa đất này chạy dọc theo ranh giới giữa hai thửa đất số 58 (của ông Trần Văn Q) và thửa số 59 (của hộ ông Lê Đ, bà Huỳnh Thị L) để ra đường giao thông. Các đương sự và những người dân sống xung quanh đều xác nhận lối đi này tồn tại từ rất lâu và là lối đi duy nhất để vào thửa đất số 50 của ông Huỳnh H.
Ủy ban nhân dân xã G trước đây và đại diện của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T hiện nay đều khẳng định, xác định phần diện tích đất mở lối đi vào thửa đất ông Huỳnh H tại Thôn G, xã T thuộc quản lý của địa phương, không cấp quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nào. Do đặc điểm thửa đất số 50 của hộ ông Huỳnh H bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề, ngoài lối đi này không còn lối đi nào khác để ra vào kết nối với đường giao thông. Do đó cần thiết giải quyết về lối đi cho hộ ông Huỳnh H theo quy định của pháp luật dân sự. Địa phương thống nhất về thẩm quyền và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án, trường hợp Tòa án mở lối đi chung từ thửa số 50 ra đường giao thông, thì phần đất này hộ ông Huỳnh H được sử dụng làm lối đi, nhưng đất vẫn do địa phương quản lý. Theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của mình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã sẽ phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để quản lý đất đai và thi hành theo bản án có hiệu lực của Tòa án.
Căn cứ bản đồ 299 và bản đồ vị trí được đo đạc ngày 30/12/1997 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh H cho thấy thửa đất số 50 đều có thể hiện lối đi dẫn vào đất từ đường giao thông tại hướng N (nay là đường Đ). Tuy nhiên, hiện nay lối đi này đã bị lấn chiếm không còn dấu tích để xác định vị trí, giới hạn tứ cận nên ông Huỳnh H không còn lối đi nào khác để vào được thửa đất số 50 của mình.
Như vậy quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh H bị xâm phạm. Do đó, ông Huỳnh H khởi kiện yêu cầu mở lại lối đi từ thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17 tại Thôn G, xã T ra đường giao thông ĐT 720 là chính đáng và có căn cứ pháp luật. Nhằm đảm bảo điều kiện để ông H được quyền sử dụng đất của mình, cần thiết phải mở lại lối đi theo yêu cầu của ông Huỳnh H và theo quan điểm đề nghị của đại diện Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là phù hợp quy định tại Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013 (khoản 8 Điều 26 của Luật Đất đai năm 2024) và Điều 254 của Bộ luật Dân sự.
Vị trí, diện tích của lối đi theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất của Chi nhánh Văn phòng Đ1 lập ngày 21/5/2025, cụ thể: lối đi bắt đầu từ thửa đất số 50 (nay là thửa số 18) chiều rộng rộng 2,11m, chạy dọc giữa hai thửa đất 20 (nguyên là thửa 59 của ông Lê Đ, bà Huỳnh Thị L) và thửa đất số 33 (nguyên là thửa 58 của ông Trần Văn Q) giáp đường ĐT 720 (bề rộng 3,27m), có tổng diện tích là 106,7m² giới hạn bởi các điểm tọa độ 18-19-13-14-18.
[4] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh H, về việc yêu cầu bị đơn mở lối đi có tổng diện tích là 106,7m² là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bà Huỳnh Thị L trong việc mở lại lối đi cho ông Huỳnh H là buộc bà L, ông Đ phải di dời, tháo dỡ vật, công trình xây dựng trên phần đất này để trả lại 61,8m² đất làm lối đi sẽ bị thiệt hại cho bà L nên Tòa án xác định thiệt hại nếu phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng theo Biên bản định giá tài sản ngày 04/6/2025 là 31.597.000 đồng và buộc ông H phải bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại, tương ứng với số tiền 15.798.000 đồng là có căn cứ pháp luật.
[5] Tại cấp phúc thẩm người kháng cáo bà Huỳnh Thị L nộp đơn trình bày ý kiến đề ngày 25/8/2025 của bà, đơn có nội dung những người làm chứng xác nhận trước ngày 30/4/1975 họ được cấp đất chiều ngang mặt tiền là 30 mét. Nội dung làm chứng này không phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm thu thập được nên không có căn cứ pháp luật để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Bị đơn Huỳnh Thị L kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới, không có chứng cứ để chứng minh kháng cáo của bị đơn Huỳnh Thị L là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa.
[6] Về án phí: kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà Huỳnh Thị L thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét