NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đối với việc UBND xã Đ cho đấu thầu các lô đất khu bãi cát, xã Đ:
- Tại Kết luận thanh tra số 1346/KL-UBND ngày 26/10/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Y về việc quản lý, sử dụng đất bãi cát năm 2016, năm 2017 của UBND xã Đ, kết luận:
- UBND xã Đ cho các hộ dân không ở tại địa phương tham gia đấu thầu và được giao thầu đất sản xuất là không đúng với quy định tại khoản 3 Điều 132 của Luật đất đai năm 2013. Hủy bỏ toàn bộ kết quả đấu thầu, giao thầu và các hợp đồng đã ký về giao thầu đất chu kỳ sản xuất 2017-2020 giữa UBND xã Đ với tất cả các chủ thầu (BL 14).
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Duy Đ: Lô đất số 20 khu bãi cát, xã Đ của chu kỳ sản xuất trước năm 2016 do bà Nguyễn Thị T2 trúng thầu với UBND xã Đ nhưng bà T2 không trực tiếp sử dụng lô đất này mà cho vợ chồng ông Nguyễn Duy Đ thầu lại nhưng không báo cáo với UBND xã Đ nên xã không biết. Vợ chồng ông Đ bà T1 là người trồng cây cối trên lô đất số 20 chu kỳ sản xuất trước năm 2016.
Ngày 05/01/2016, UBND xã Đ và bà Nguyễn Thị T2 cùng lập Biên bản thanh lý hợp đồng thầu sản xuất đất bãi cát chu kỳ 2013-2015 (BL 40). Vì vậy, kể từ ngày 06/01/2016, bà Nguyễn Thị T2 không còn liên quan gì đến lô đất số 20 cả về hợp đồng thầu sản xuất cũng như cây trồng trên đất. Chu kỳ thầu sản xuất đất bãi cát 2016-2017, không có ai thầu lô số 20 khu bãi cát, xã Đ và cũng không có ai nộp nộp tiền thầu cho UBND xã Đ (BL 46). Như vậy, vợ chồng ông Đ bà T1 trồng cây trên lô đất số 20 khu bãi cát, xã Đ chỉ là tăng gia trên đất trống của UBND xã Đ quản lý. Chu kỳ thầu sản xuất đất bãi cát 2017-2020, ông Ngô Xuân C trúng thầu 10 lô đất (từ lô số 18 đến lô số 27) khu bãi cát xã Đ. Sau khi ký hợp đồng, UBND xã Đ chưa bàn giao trên thực địa các lô đất ông C trúng thầu nhưng ông C đã tiến hành chôn cọc bê tông, chăng dây thép gai phân định mốc giới các lô 5 đất trúng thầu; đồng thời dùng máy xúc san ủi mặt bằng làm hư hại các loại cây trồng của các chủ thầu chu kỳ thầu trước, trong đó có lô đất số 20. Công an huyện Y phối hợp với Công an xã Đ cùng ông Đ đến lô đất số 20 tiến hành kiểm đếm, đo đạc số lượng, diện tích cây cối hoa màu của ông Đ bị ông C gây thiệt hại và lập biên bản vào các ngày 22, 23 và 24/6/2017 có xác nhận của Công an huyện, công an xã và các hộ gia đình bị thiệt hại (BL 77).
Tại Biên bản thống kê thiệt hại về cây trồng và hoa màu ngày 24/6/2017, gia đình ông Đ bị thiệt hại gồm:
- 178 cây xoan có kích thước khác nhau (bị đào múc, bung rễ khỏi mặt đất) theo Biên bản thống kê, đo tỉ lệ ngày 22/6/2017;
- 144 gốc táo trồng từ năm 2009;
- 3.600m² cây chuối trồng từ năm 2009
- và 2.160m² cây sắn trồng từ tháng 02/2017 (BL 78).
Như vậy, có căn cứ xác định trên lô đất số 20, vợ chồng ông Đ bà T1 bị ông Ngô Xuân C gây thiệt hại các tài sản nêu trên.
Căn cứ Kết luận thanh tra số 1346/KL-UBND ngày 26/10/2017 của Uy ban nhân dân huyện Y về việc quản lý, sử dụng đất bãi cát năm 2016, năm 2017 của UBND xã Đ (BL 13), UBND xã Đ đã lập bảng tính bồi thường thiệt hại hoa màu khu vực bãi cát năm 2017, trong đó, hộ ông Nguyễn Duy Đ được bồi thường thiệt hại số tiền 38.580.000đồng. Ông Đ không đồng ý với giá bồi thường thiệt hại của UBND xã Đ nên đã khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu UBND xã Đ, ông Ngô Gia L và ông Ngô Xuân C phải liên đới bồi thường thiệt hại cho vợ chồng ông Đ tổng số tiền là 392.000.000đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu UBND xã Đ và ông Ngô Gia L phải bồi thường mà chỉ yêu cầu ông Ngô Xuân C phải bồi thường toàn bộ thiệt hại trị giá 392.000.000đồng.
Ngày 28/11/2025, Hội đồng định giá tài sản đã định giá toàn bộ tài sản của ông Đ bà T1 bị thiệt hại theo giá thị trường là 66.450.000đồng. Ông Đ không đồng ý với giá của Hội đồng định giá mà cho rằng giá thực tế tài sản bị thiệt hại của vợ chồng ông cao hơn so với giá của Hội đồng định giá nhưng không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho ý kiến của mình, nên Tòa án không có căn cứ để xem xét. Do đó, xác định ông Ngô Xuân C gây thiệt hại về tài sản của ông Đ bà T1 có giá trị 66.450.000đồng. Buộc ông Ngô Xuân C phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đ và bà T1 số tiền 66.450.000đồng.
[3]. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu UBND xã Đ và ông Ngô Gia L phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Đ. Xét thấy, việc ông Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phủ hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4]. Tại phiên tòa, người đại diện của ông Ngô Xuân C đề nghị UBND xã L, tỉnh Phú Thọ (xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cũ) trả lại ông C số tiền 46.893.845đồng mà năm 2017, ông C đã nộp cho UBND xã Đ để bồi thường cho các hộ dân bị ông C gây thiệt hại cây cổi nhưng các hộ dân không nhận, đê ông C lấy tiền hỗ trợ cho ông Đ. Xét thấy, năm 2017, ông C đã đồng ý và tự nguyện nộp số tiền 46.893.845đồng cho UBND xã Đ để bồi thường cho các hộ dân bị thiệt hại, đây là quan hệ pháp luật khác với quan hệ pháp luật mà Tòa án giải quyết trong vụ án này. hơn nữa, số tiền ông C nộp cho UBND xã Đ để bồi thường cho các hộ dân bị thiệt hại chứ không phải chỉ bồi thường cho hộ ông Đ. Vì vậy, Tòa án không giải quyết đồng thời trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện đổi với ông C bằng vụ án dân sự khác nếu có tranh chấp.
[5]. Về án phí: Ông Ngô Xuân C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Duy Đ phải chịu án phí đối với số tiền yêu cầu không được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét