[2] Về căn cứ áp dụng pháp luật và giới hạn của việc xét xử:

 - Về căn cứ áp dụng pháp luật: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao truy tố các bị cáo về hành vi đã thực hiện từ năm 2012 đến năm 2020. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 và khoản 2, 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét áp dụng các tình tiết có lợi cho các bị cáo đồng thời không áp dụng các quy định không có lợi cho các bị cáo

  • Theo đó, Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu; khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. 

- Về giới hạn của việc xét xử: Ngoài hành vi bị điều tra, truy tố, các bị cáo là nhân viên Ngân hàng SCB còn thực hiện hành vi sai phạm trong việc tạo lập hồ sơ vay vốn khống, giải ngân không đúng quy định để Trương Mỹ Lan chiếm đoạt tiền khi giữ các vị trí, vai trò khác. Cũng như các cá nhân là người có quyền lợi, nghĩa vụ liện quan trong vụ án, có hành vi sai phạm nhưng được Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đánh giá là vai trò thứ yếu, đã chủ động khai báo, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng này. Như vậy, do giới hạn của việc xét xử nên Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét