[3.1] Tại Ngân hàng SCB, để công cuộc tái cơ cấu thành công, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Ngân hàng SCB xây dựng Đề án tái cơ cấu với lộ trình thích hợp, thành lập Tổ giám sát tại SCB, định kỳ hàng tháng trực tiếp báo cáo kết quả thực hiện để Ngân hàng Nhà nước kịp thời chỉ đạo, xử lý.

[3.1] Tại Ngân hàng SCB, để công cuộc tái cơ cấu thành công, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Ngân hàng SCB xây dựng Đề án tái cơ cấu với lộ trình thích hợp, thành lập Tổ giám sát tại SCB, định kỳ hàng tháng trực tiếp báo cáo kết quả thực hiện để Ngân hàng Nhà nước kịp thời chỉ đạo, xử lý. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng thực hiện tái cấp vốn cho SCB số tiền 19.750 tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản. 

Tuy nhiên, Trương Mỹ Lan sau khi sở hữu và chi phối cổ phần gần như tuyệt đối tại SCB, đã bố trí nhân sự chủ chốt giữ các chức danh quản lý, điều hành với thù lao hậu hĩnh, tặng thưởng cổ phần ngân hàng để những cá nhân này tin tưởng và thực hiện theo chỉ đạo của bị cáo hoặc đưa các cá nhân đã làm việc lâu năm tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát sang quản lý tại SCB như Nguyễn Thị Thu Sương, Trầm Thích Tồn (Nguyên Tổng giám đốc công ty cổ phần Sài Gòn Peninsula), Tạ Chiêu Trung (Nguyên Tổng giám đốc công ty Việt Vĩnh Phú). 

Từ năm 2012 - 2022, bị cáo đã trực tiếp chi đạo Đinh Văn Thành, Bùi Anh Dũng, Tạ Chiêu Trung, Võ Tấn Hoàng Văn, Trương Khánh Hoàng và Trần Thị Mỹ Dung rút tiền từ Ngân hàng SCB thông qua thủ đoạn lập hồ sơ vay vốn, trái với phương án, đề án tái cơ cấu đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt, cụ thể: 

  • Từ ngày 01/01/2012 đến ngày 07/10/2022, Ngân hàng SCB đã giải ngân cho 1.366 khách hàng (gồm 710 cá nhân, 656 tổ chức) liên quan đến trách nhiệm của Trương Mỹ Lan vay 2.527 khoản với tổng số tiền 1.066.608 tỷ đồng, đến ngày 17/10/2022, còn 875 khách hàng (gồm 440 cá nhân, 435 tổ chức) vay 1.284 khoản tổng cộng 525.480 tỷ đồng, còn dư nợ 677.286 tỷ đồng (gồm 483.971 tỷ đồng nợ gốc và 193.315 tỷ đồng nợ lãi). 

Kết quả xác minh tại Ngân hàng SCB, 1.284 khoản vay thuộc nhóm Trương Mỹ Lan chiếm 93% tổng dư nợ gốc của SCB (23.042 khoản vay), các khoản vay này đều thuộc nợ nhóm 5, không có khả năng thu hồi. 

Kết quả lấy lời khai các cá nhân đứng tên khoản vay, đứng tên người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đều xác định không biết các khoản vay trên mà được các cá nhân tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB thuê để ký khống

Kết quả xác minh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cũng thể hiện các pháp nhân đứng tên vay vốn đều mới thành lập phù hợp với lời khai của các bị cáo Nguyễn Phương Anh, Bùi Đức Khoa, Nguyễn Thị Khánh VânTrần Thị Kim Chi trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định chỉ thành lập pháp nhân nhằm mục đích vay vốn, toàn bộ thành viên góp vốn, người đại diện theo pháp luật đều được đi thuê, phù hợp với biên bản giao nộp tổng cộng 600 giấy đăng ký kinh doanh (bản chính)715 con dấu công ty do 11 nhân viên Tập đoàn Vạn Thịnh Phát tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra khi vụ án bị phát hiện. 

Bên cạnh đó, phương án vay vốn cũng được lập khống, tài sản đảm bảo được nâng lên cho phù hợp với nhu cầu rút tiền của Trương Mỹ Lan, tiền giải ngân được sử dụng cho các mục đích riêng của bị cáo Lan, cụ thể dòng tiền của 1.284 khoản vay, với số tiền giải ngân tổng cộng 525.480 tỷ đồng được xác định qua chứng từ giải ngân, chuyển tiền như sau: 

+ Trả nợ khoản vay cũ tại Ngân hàng SCB: 57.029 tỷ đồng; 

+ Tổ chức/cá nhân chuyển khoản ra ngoài hệ thống SCB: 381.303 tỷ đồng; 

+ Tổ chức/cá nhân chuyển khoản nội bộ trong Ngân hàng SCB: 5.275 tỷ đồng; 

+ Tổ chức/cá nhân rút tiền mặt: 81.873 tỷ đồng 

(Chi nhánh Sài Gòn 50.086 tỷ đồng, Chi nhánh Cống Quỳnh 16.952 tỷ đồng; Chi nhánh Bến Thành: 14.1717 tỷ đồng, Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch: 537,35 tỷ đồng, Chi nhánh Phú Đông 323,7 tỷ đồng, Chi nhánh Tân Định 21,2 tỷ đồng). 

Kinh doanh tiền tệ là hoạt động kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro tài chính, do đó Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng đã ban hành nhiều quy định nhằm đảm bảo nghiệp vụ cho vay đạt hiệu quả và đúng quy định pháp luật. 

Tại Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng quy định: 

“Điều 94. Xét duyệt cấp tín dụng, kiểm tra sử dụng tiền vay 

1. Tổ chức tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng. 

2. Tổ chức tín dụng phải tổ chức xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng. 

3. Tổ chức tín dụng có quyền, nghĩa vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng. 

4. Tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu khách hàng vay báo cáo việc sử dụng vốn vay và chứng minh vốn vay được sử dụng đúng mục đích vay vốn".  

Việc kiểm tra hồ vay vốn, giám sát việc sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng còn được cụ thể hóa tại Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, cụ thể: 

“Điều 6. Nguyên tắc vay vốn Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo : 

  • 1. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. 

Điều 7. Điều kiện vay vốn Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau : 

  • 1. Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật : 
  • 2. Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. 
  • 3. Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. 
  • 4. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật. 
  • 5. Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 

Điều 15. Thầm định và quyết định cho vay 

  • 2- Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, địch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay. 

Điều 21. Kiểm tra, giám sát vốn vay 

  • Tổ chực tín dụng xây dụng quy trình và thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc điểm hoạt động của tổ chức tín dụng và tính chất của khoản vay, nhằm đảm bảo hiệu quả và khả năng thu hồi vốn vay.” 

Nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật thì từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. 

Tuy nhiên, tiếp nhận ý chí của Trương Mỹ Lan, để rút được tiền từ Ngân hàng SCB, các bị cáo bất chấp các quy định pháp luật, thậm chí giải ngân trước, hợp thức hồ sơ vay vốn sau. Khi vụ án bị phát hiện có 684/1.284 khoản vay của nhóm Trương Mỹ Lan chưa có thủ tục thế chấp khi giải ngân, 201/1.284 khoản vay chưa có phê duyệt cho vay của cấp có thẩm quyền. 

Như vậy, lợi dụng vai trò là cổ đông sở hữu và chi phối tỷ lệ cổ phần gần như tuyệt đối và có quyền hạn cao nhất tại Ngân hàng SCB, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo Đinh Văn Thành, Bùi Anh Dũng, Tạ Chiêu Trung, Võ Tấn Hoàng Văn, Trương Khánh Hoàng và Trần Thị Mỹ Dung, là những người được bị cáo bố trí giữ chức danh quản lý, điều hành tại Ngân hàng SCB thực hiện rút tiền từ chính Ngân hàng SCB để chiếm đoạt sử dụng cho nhiều mục đích cá nhân, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB. 

Các bị cáo Đinh Văn Thành, Bùi Anh Dũng, Tạ Chiêu Trung, Võ Tấn Hoàng Văn, Trương Khánh Hoàng và Trần Thị Mỹ tiếp nhận ý chí của Trương Mỹ Lan trực tiếp thực hiện hành vị rút tiền thông qua thủ đoạn chỉ đạo nhân viên dưới quyền lập các hồ sơ vay vốn không có thật trái với quy định tại Điều 7 và 94 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 5, 6, 7, 9, 14, 15, 21 và 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được NHNN ban hành theo Quyết định số 1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001; khoản 5 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của NHNN và các Điều 3, 4, 7, 8, 9, 15, 17 và 24 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN. 

Hành vi nêu trên của Trương Mỹ Lan và đồng phạm đã có dấu hiệu cấu thành tội "Tham ô tài sản”. Tuy nhiên, do hành vi phạm tội của các bị cáo xảy ra tại Ngân hàng SCB là ngân hàng thương mại cổ phần, không có vốn nhà nước và được thực hiện trong một thời gian dài mà chính sách, pháp luật về hình sự có sự thay đổi cơ bản về đường lối xử lý trước và sau ngày 01/01/2018 (thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành). 

Theo đó, trước ngày 01/01/2018, Bộ luật Hình sự năm năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 không quy định về hành vi tham ô trong lĩnh vực tư nhân do vậy hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện trước ngày 01/01/2018 không bị xử lý về tội "Tham ô tài sản”. Tuy nhiên, với hành vi xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về hoạt động ngân hàng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, mất thanh khoản cho Ngân hàng SCB của các bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2009. 

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao truy tố các bị cáo về tội danh trên đối với các hành vi xảy ra trước ngày 01/01/2018 là đúng quy định pháp luật. Đối với các hành vi xảy ra sau ngày 01/01/2018, ngoài đảm bảo các dấu hiệu về mặt chủ thể, hành vi chiếm đoạt tiền của bị cáo Trương Mỹ Lan còn được thể hiện bằng việc bị cáo đã chỉ đạo vận chuyển một phần số tiền giải ngân của các khoản vay về chỗ ở hoặc chỗ làm việc của bị cáo để sử dụng, cụ thể: 

  • Căn cứ số tay ghi chép và lời khai của Bùi Văn Dũng (lái xe của Trương Mỹ Lan, Trần Thị Mỹ Dung (Phó tổng giám đốc Ngân hàng SCB), Trần Thị Hoàng Uyên (giúp việc cho Trương Mỹ Lan) và Trần Thị Thúy Ái (Kiểm soát viên viên ngân quỹ Ngân hàng SCB – Chỉ nhánh Sài Gòn), xác định từ 26/02/2019 đến ngày 12/9/2022, theo chỉ đạo của Trương Mỹ Lan, Dũng đã vận chuyển tiền từ Ngân hàng SCB về Tập đoàn VTP (193-203 Trần Hưng Đạo) hoặc về Hầm B1, Tòa nhà Sherwood (127 Pasteur) hoặc giao, đưa cho một số cá nhân theo chỉ đạo của Trương Mỹ Lan thông qua Trần Thị Hoàng Uyên tổng cộng khoảng 108.878 tỷ đồng và 14.757.677 USD. 

Do thực hiện hành vi chiếm đoạt thông qua thủ đoạn lập hồ sơ vay vốn nên hành vi của bị cáo và các đồng phạm còn gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB khoản tiền lãi phát sinh từ các hợp đồng tín dụng này. Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Tham ô tài sản” là phù hợp quy định pháp luật. Đây cũng là lập luận để Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của luật sư cho rằng việc xử lý về 02 tội danh theo 02 giai đoạnbất lợi cho các bị cáo và không phù hợp quy định pháp luật. 

Đối với các bị cáo Hồ Bửu Phương, Nguyễn Phương Anh, Đặng Phương Hoài Tâm, Trương Huệ Vân, Dương Tấn Trước, mặc dù không giữ chức vụ hay được phân công nhiệm vụ tại Ngân hàng SCB. Tuy nhiên, các bị cáo biết rõ hồ sơ vay vốn được lập khống chỉ nhằm mục đích để Trương Mỹ Lan rút tiền từ SCB sử dụng cá nhân nhưng các bị cáo vẫn giúp sức cho Trương Mỹ Lan thành lập công ty, cho mượn pháp nhận công ty, lên phương án vay vốn, giải quỹ. Hành vì của các bị cáo đã trực tiếp tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan chiếm đoạt tiền của SCB. Do đó, Trương Mỹ Lan phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh nào thì các bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm về tội danh tương ứng với vai trò đồng phạm giúp sức

Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu Sương, Uông Vặn Ngọc Ản, Võ Thành Hùng, Trầm Thích Tồn, Trần Thuận Hòa, Lê Khánh Hiền, Phạm Văn Phi, Võ Văn Tường, Phạm Mạnh Cường, Võ Triệu Lân, Nguyễn Lâm Anh Vũ, Nguyễn Anh Phước, Nguyễn Huỳnh Lan Chi, Nguyễn Thị Phương Loan, Chiêm Minh Dũng, Nguyễn Văn Thanh Hải, Hoàng Minh Hoàn, Bùi Nhân, Diệp Bảo Châu, Nguyễn Cửu Tính, Đỗ Phú Huy, Khổng Minh Thế, Trần Hoàng Giang, Từ Văn Tuấn, Mai Hồng Chín, Mai Văn Sáu Nhở, Lương Thị Hồng Quế, Lê Anh Phương, Phan Tấn Khôi, Lưu Chấn Nguyên, Hồ Bảo Ngọc, Nguyễn Anh Thép, Nguyễn Ngọc Tú, Phạm Thế Quảng, Huỳnh Thiên Văn, Lê Văn Chánh, Bùi Ngọc Sơn đều giữ các chức danh quản lý, điều hành tại hội sở hoặc chỉ nhánh Ngân hàng SCB, có thời gian dài làm việc và trải qua nhiều vị trí công tác, có đủ chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng, đều biết rõ các nguyên tắc cấp tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. 

Tuy nhiên, trong vụ án này, tất cả 1.284 hồ sơ vay vốn thuộc nhóm Trương Mỹ Lan đều không thực hiện các thủ tục như trên, cụ thể: 

  • Khách hàng thực tế không có nhu cầu vay vốn, không có khả năng tài chính để trả nợ, dự án, phương án sản xuất, kinh doanh được lập khống, vốn vay sử dụng không đúng mục đích, tài sản đảm bảo được nâng khống, không đủ tính pháp lý.

Theo đó, các bị cáo được chỉ đạo đây là hồ sơ khách hàng VIP, do hội sở tiếp thị nên chỉ cần hợp thức và giải ngân mà không phải kiểm tra thực tế, nếu có kiểm tra cũng chỉ mang tính hình thức nhằm qua mặt Tổ giám sát và các đoàn thanh tra. Hành vi không tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước, của pháp luật trong việc thực hiện các quy định về cấp tín dụng, buông lỏng điều kiện vay vốn, cấp tín dụng cho khách hàng của các bị cáo đã vi phạm khoản 2, Điều 7; Điều 94 Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 5, 6, 7, 9, 14, 15, 21 và 25 Quy chể cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được NHNN ban hành theo Quyết định số 1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001; khoản 5 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 của NHNN; khoản 2 Điểu 4; khoản 3, 4 Điều 7; khoản 1 Điều 17; Điều 24Thông tư số 39/2016/TTNHNN ngày 30/12/2016 của NHNN, quy định quyền tự chủ của tổ chức tín dụng, nguyên tắc vay vốn, điều kiện vay vốn, hồ sơ vay vốn, thẩm định và quyết định cho vay, kiểm tra giám sát vốn vay, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng. 

Hậu quả, toàn bộ 1.284 khoản vay trên thuộc nhóm 5 (nợ xấu không có khả năng thu hồi. Hành vi vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của các bị cáo theo từng giai đoạn đã đủ dầu hiệu cầu thành tội phạm theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Tối cao xác định là phù hợp. Đối với quan điểm của luật sư cho rằng Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định có lợi hơn so với Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2009 xét xử đối với các bị cáo có hành vi vi phạm trước ngày 01/01/2018, về nội dung này Hội đồng xét xử nhận định như sau: 

Khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự quy định “Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm”, trong khi khoản 4 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ mười hai đến hai mươi năm”. Như vậy, mức khởi đầu khung Viện kiểm sát áp dụng truy tố đối với các bị cáo quy định tại khoản 4 Điều 206 nặng hơn so với khoản 3 Điều 179, đây là quy định không có lợi cho người phạm tội. Do đó, các hành vi vi phạm trước ngày 01/01/2018 được Viện kiểm sát truy tố theo khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. 

Đối với các bị cáo Bùi Đức Khoa, Nguyễn Thị Khánh Vân, Trần Thị Kim Chi, Nguyễn Phi Long, Đặng Quang Nguyên là nhân viên của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, đã thực hiện chỉ đạo của Nguyễn Phương Anh, Trương Huệ Vân tìm kiểm các cá nhân để thành lập doanh nghiệp, biết rõ các các cá nhân, tổ chức này không có nhu cầu vay vốn nhưng vẫn chuyển hồ sơ vay vốn do Ngân hàng SCB lập để các cá nhân nói trên ký hợp thức, thậm chí ký trên tài liệu chưa có nội dung, bỏ mặc hậu quả xảy ra.... 

Bị cáo Chu Lập Cơ, xuất phát từ mối quan hệ thân thích và tin tưởng Trương Mỹ Lan đã ký hồ sơ đồng ý dùng tài sản của mình để bảo lãnh các khoản vay mà không cần biết người vay, phương án cũng như mục đích vay vốn, hậu quả dòng tiền giải ngân sử dụng không đúng phương án vay vốn, dẫn đến khoản vay không có khả năng thu hồi. 

Các bị cáo Cao Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tùng, Đào Chí Kiên có mối quan hệ lệ thuộc, với mong muốn vay được tiền tại Ngân hàng SCB và tin tưởng Trương Mỹ Lan nên đồng ý để bị cáo Lan sử dụng pháp nhân các công ty mà các bị cáo là đại diện theo pháp luật đứng tên vay vốn, phối hợp nhân viên SCB ký hợp thức các hồ sơ vay, bỏ mặc hậu quả xảy ra. 

Các bị cáo Lê Huy Khánh, Hồ Bình Minh, Trần Thị Kim Ngân, Trần Tuấn Hải, Trần Văn Nhị, Đỗ Xuân Nam, Lê Kiều Trang là thẩm định viên, biết rõ việc thẩm định giá tài sản đảm bảo theo yêu cầu của Ngân hàng SCB nhằm mục đích cho vay nhưng vẫn thực hiện yêu cầu của SCB thông qua Bùi Ngọc Sơn và Lê Văn Chánh, phát hành các Chứng thư thẩm định nâng khống giá trị tài sản và lùi ngày phát hành để Ngân hàng SCB hợp thức hỗ sơ vay vốn, thực hiện giải ngân. Hành vi của các bị cáo đã giúp sức cho các bị cáo là nhân viên Ngân hàng SCB thực hiện cấp tín dụng cho các khoản vay của Trương Mỹ Lan trái quy định Ngân hàng Nhà nước. Do đó, các bị cáo là nhân viên Ngân hàng SCB thực hiện chi đạo để lập hồ sơ vay vốn bị truy tố theo tội danh nào thì các bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng với vai trò đồng phạm giúp sức

Về xác định thiệt hại của vụ án, 

  • Đối với hành vi tham ô tài sản, tội phạm được xem là hoàn thành tại thời điểm giải ngân, theo đó số tiền chiếm đoạt được xác định là toàn bộ dư nợ gốc đã được giải ngân. 
  • Đối với hành vi xâm phạm chế độ quản lý Nhà nước về hoạt động ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng SCB ngoài là tổ chức tín dụng còn là pháp nhân kinh tế hoạt động theo mô hình công ty cổ phần trong đó hoạt động tạo ra lợi nhuận chính tại các tổ chức tín dụng nói chung và Ngân hàng SCB nói riêng là hoạt động cấp tín dụng và chỉ phí lớn nhất là trả lãi huy động vốn. Tại thời điểm tháng 02/2012, thu nhập từ hoạt động tín dụng của SCB chiếm 84,85% tổng thu nhập và chi phí trả lãi là 95,3%. 

Như vậy, việc ngân hàng SCB không thu được lãi cho vay trong khi vẫn phải thanh toán lãi huy động là thiệt hại thực tế. Do đó, Viện kiểm sát xác định thiệt hại đối với tội danh quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sựĐiều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 gồm dư nợ gốcnợ lãi tính đến ngày vụ án bị phát hiện khởi tố là phù hợp thực tế khách quan, đảm bảo quyền lợi cho tổ chức kinh tế. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của các luật sư đề nghị loại trừ nợ lãi khi xác định hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. 

Đối với quan điểm cho rằng để xác định thiệt hại của vụ án cần trưng cầu định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự cũng như cho rằng việc sử dụng kết luận định giá của công ty thẩm định giá Hoàng Quân là không đảm bảo tính pháp lý, gây bất lợi cho các bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Đối chiếu các quy định pháp luật hiện hành thì để xác định hậu quả thiệt hại trong vụ án này không thuộc trường hợp bắt buộc phải trưng cầu định giátrường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định theo quy định tại khoản 6 Điều 4 Thông tư liên tịch 01/2017/TT- TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 như viện dẫn của luật sư chỉ nhằm để xác định hành vi vi phạm pháp luật về ngân hàng, không phải để xác định thiệt hại. 

Đối với mục đích thẩm định giá cũng như hiệu lực Chứng thư thẩm định giá Hoàng Quân các luật sư nêu đều không làm thay đổi giá trị tài sản được thẩm định giá vào một thời điểm nhất định tức ngày 30/9/2022. Do Viện kiểm sát áp dụng nguyên tắc có lợi và sử dụng chứng thư trên để loại trừ một phần hậu quả khi xác định trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo nên căn cứ khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trách nhiệm hình sự trong phạm vi Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. 

Về xác định thiệt hại của các khoản vay có tài sản đảm bảo là Tòa nhà Times Square: Theo Biên bản họp Hội đồng quản trị công ty cổ phần đầu tư Times Square Việt Nam ngày 15/08/2017 thì công ty cổ phần đầu tư Times Square Việt Nam chỉ đồng ý tiếp tục dùng tài sản là Tòa nhà Times Square đề đảm bảo cho 53 khách hàng vay vốn tại SCB với tổng dư nợ được đảm bảo là gần 35.542 tỷ đồng và giá trị tài sản bảo đảm được phân bổ là gần 42.958 tỷ đồng trên tổng giá trị tài sản tòa nhà Times Square là 45.000 tỷ đồng. Theo đó, 46 khoản vay năm trong 1.284 khoản vay bị quy buộc có giá trị tài sản đảm bảo được phân bổ là gần 38.386 tỷ đồng. Tòa nhà Times Square được công ty thẩm định giá Hoàng Quân định giá là 35.288 tỷ đồng, tuy nhiên do tài sản được phân bố bảo đảm theo tỷ lệ mà không phải toàn bộ giá trị tòa nhà do đó giá trị tài sản đảm bảo được xem xét khấu trừ khi xác định trách nhiệm đối với các bị cáo là 30.101 tỷ đồng như cáo trạng xác định là có căn cứ. 

Việc các luật sư suy đoán số tiền chênh lệch khoảng 5.000 tỷ đồng được dùng để trích lập dự phòng rủi ro và đề nghị được tiếp tục khấu trừ khi xác định thiệt hại là không có căn cứ bởi lẽ SCB không có quyền xử lý đối với phần giá trị tài sản chưa được phân bổ để đảm bảo cho các khoản vay. 

Đối với quan điểm của luật sư cho rằng cần loại trừ các khoản vay mà giá trị tài sản đảm bảo cao hơn dư nợ gốc hoặc cao hơn cả dư nợ gốc và lãi khi xác định trách nhiệm đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hồ sơ vay vốn đều được lập khống (phương án vay vốn không có thật, công ty vay vốn không hoạt động, cá nhân vay vốn không có nhu cầu vay vốn trên thực tế), việc đưa tài sản đảm bảo vào chỉ là phương thức để Trương Mỹ Lan rút tiền của SCB. Do đó, trách nhiệm hình sự của các bị cáo được tính trên tổng dư nợ của các khoản vay này với nguyên tắc có xem xét khấu trừ giá trị tài sản đảm bảo. 

Việc tính toán như trên là nhằm đảm bảo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo, bởi lẽ khi tính toán chỉ tiết từng khoản vay thì tài sản đảm bảo sẽ không được bù trừ giữa các khoản vay, dẫn tới thiệt hại mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm đều tăng lên so với cáo trạng và kết luận điều tra. Đơn cử, khoản vay của bị cáo Diệp Bảo Châu tăng từ 122.350 tỷ đồng lên 127.102 tỷ đồng, bị cáo Phạm Văn Phi tăng từ 23.486 tỷ đồng đến 31.000 tỷ đồng. 

Như vậy, đề nghị của các luật sư là bất lợi cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm bào chữa nói trên. Đối với quan điểm cho rằng có chênh lệch 20 mã tài sản đảm bảo chưa được công ty Hoàng Quận định giá, Hội đồng xét xủ đánh giá như sau: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện 1.284 khoản vay thuộc trách nhiệm của Trương Mỹ Lan có 1.166 mã tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, có 20 mã tài sản cùng được sử dụng đảm bảo cho các khoản vay ở cả 02 giai đoạn 01/01/2012 – 31/12/201701/01/2018 – 07/10/2022. Do đó, số liệu kết luận điều tra xác định là chính xác, không có mâu thuẫn nên luật sư viện dẫn và cho rằng Viện kiểm sát xác định thiệt hại vụ án chưa chính xác là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét