[3.5] Kết luận thanh tra số 3959/KL-TTGSNH1 ngày 04/12/2018 là cơ sở để đánh giá đúng tình hình, thực trạng tín dụng, nợ xấu, cơ cấu nợ của Ngân hàng SCB theo Kế hoạch tái cơ cấu giai đoạn 2015 - 2019

Tình trạng sở hữu cổ phần, kiểm soát, điều hành tại Ngân hàng SCB của Trương Mỹ Lan, Tập đoàn Vạn Thịnh Phát để Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có các giải pháp, biện pháp xử lý phù hợp. Tuy nhiên, khi ký Kết luận thanh tra trình Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, bị cáo Nguyễn Văn Du đã không so sánh, đối chiếu, kiểm tra, rà soát với kết quả thanh tra trước đó tại Báo cáo của thành viên, Báo cáo của Tổ và Báo cáo của Đoàn thanh tra cũng như công văn lấy ý kiến của các cơ quan liên quan để xây dựng Dự thảo Kết luận thanh tra dẫn đến không phát hiện mâu thuẫn giữa kết quả thanh tra ghi nhận tại Báo cáo của các tổ với Báo cáo của Đoàn thanh tra. 

Kết quả, nội dung Kết luận thanh tra đã thể hiện không đầy đủ, không trung thực về tình hình, thực trạng tài chính của Ngân hàng SCB và các sai phạm của Ngân hàng SCB; không kiến nghị thu hồi, dừng giải ngân đối với các dự án, phương án sai phạm và tiếp tục cho tái cơ cấu; không chuyển cơ quan điều tra làm rõ sai phạm, nguồn tiền tất toán đối với 71 khách hàng địa chỉ kinh doanh tại số 4 Nguyễn Thị Minh Khai.  Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 7 Luật thanh tra năm 2010 và khoản 1, khoản 2 Điều 23 Thông tư số 36/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước, cụ thể: 

“Điều 7. Nguyên tắc hoạt động thanh tra 

  • 1. Tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời." 

"Điều 23. Xem xét báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn thanh tra 

  • 1. Người ra quyết định thanh tra trực tiếp nghiên cứu hoặc giao cho cơ quan, đơn vị chuyên môn, người tham mưu giúp việc nghiên cứu, xem xét các nội dung trong bảo cáo kết quả thanh tra. 
  • 2. Trường hợp cần phải làm rõ hoặc cần phải bổ sung thêm nội dung trong báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để nghe báo cáo trực tiếp hoặc có ý kiến chỉ đạo bằng văn bản, yêu cầu Trưởng đoàn và các thành viên trong Đoàn thanh tra báo cáo." 

Hành vi thực hiện không đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được giao của Nguyễn Văn Du đã dẫn đến hậu quả SCB tiếp tục được tái cơ cấu và thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng trong đó có nhóm khách hàng Vạn Thịnh Phát – Trương Mỹ Lan khiến toàn bộ dư nợ của khoản vay này không có khả năng thu hồi, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 514.102.650.536.206 đồng

Bị cáo Phạm Thu Phong, Lưu Quốc Thắng với vai trò là Trưởng Ban kiểm soát Ngân hàng SCB có nghĩa vụ triển khai thực hiện nhiệm vụ của Ban kiểm soát được quy định tại khoản 1, 3 và 9 Điều 45 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 11 Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban kiểm soát SCB, cụ thể: 

  • “1. Giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật và Điều lệ của tổ chức tín dụng trong việc quản trị, điều hành tổ chức tín dụng; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông, chủ sở hữu, thành viên góp vốn trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyên hạn được giao. 
  • 3. Thực hiện chức năng kiểm toán nội bộ; có quyền sử dụng tư vấn độc lập và quyền được tiếp cận, cung cấp đủ, chính xác, kịp thời các thông tin, tài liệu 210 liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành tổ chức tín dụng để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. 
  • 9. Triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường trong trường hợp Hội đồng quản trị có quyết định vi phạm nghiêm trọng quy định của Luật này hoặc vượt quá thẩm quyền được giao và trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng". 

Tuy nhiên, quá trình kiểm tra các bị cáo thực hiện chỉ mang tính hình thức, kiểm soát hồ sơ vay vốn của SCB thông qua hoạt động kiểm toán nội bộ thì chỉ kiểm toán theo chuyên đề, không thực hiện kiểm toán toàn bộ. Quá trình kiểm tra, kiểm soát mảng tín dụng, không được các chỉ nhánh, đơn vị cung cấp hồ sơ hoặc cung cấp không đầy đủ và Hội đồng quản trị không phối hợp chi đạo cũng không có biện pháp khắc phục hoặc triệu tập Đại hội đồng cổ đông để giải quyết.

Hành vi buông lỏng quản lý, thiếu kiểm tra giám sát hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng SCB đối với các khách hàng thuộc nhóm Vạn Thịnh Phát của các bị cáo đã vi phạm khoản 1, khoản 3 và khoản 9 Điều 45 Luật các tổ chức tín dụng dẫn đến không phát hiện, ngăn chặn kịp thời, có biện pháp xử lý đối với các sai phạm của Ngân hàng SCB trong hoạt động cấp tín dụng khiến các khoản vay còn dư nợ rất lớn, không có khả năng thu hồi nợ, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho Ngân hàng SCB. 

Do đó, hành vi buông lỏng quản lý, thực hiện không đầy đủ chức năng nhiệm, nhiệm vụ được giao gây hậu quả thiệt hại cho Ngân hàng SCB của các bị cáo Nguyễn Văn Du, Phạm Thu Phong và Lưu Quốc Thắng đã phạm vào tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. 

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét