[4] Trách nhiệm về hành vi cũng như phân hóa vai trò, tính chất và mức độ phạm tội của từng bị cáo như sau:

Đây là vụ án mang tính tổ chức, có phân công nhiệm vụ trong đó bị cáo Trương Mỹ Lan là người chủ mưu, đề ra chủ trương và chỉ đạo các bị cáo Đinh Văn Thành, Bùi Anh Dũng, Võ Tấn Hoàng Văn, Trương Khánh Hoàng, Trần Thị Mỹ Dung, tổ chức phân công cho những nhân viên dưới quyền tại Ngân hàng SCB, các bị cáo Đặng Phương Hoài Tâm, Hồ Bửu Phương, Nguyễn Phương Anh, Trương Huệ Vân tổ chức, phân công cho các nhân viện thuộc Hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát tạo lập một số lượng lớn các hồ sơ vay vốn khống để rút ra số tiền đặc biệt lớn để sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB, cụ thể: 

-Từ ngày 01/01/2012 đến ngày 31/12/2017, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo lập khống 368 hồ sơ vay vốn để rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng vào các mục đích khác nhau, đến nay chưa có khả năng thu hồi, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 64.621.490.766.739 đồng.

 -Từ ngày 09/02/2018 đến ngày 07/10/2022, Trương Mỹ Lan đã chỉ đạo lập khống 916 hồ sơ vay vốn, chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 304.096.278.409.456 đồng, gây thiệt hại số tiền 129.372.775.105.744 đồng. Ngoài ra, để che giấu thực trạng tài chính đặc biệt yếu kém cùng hàng loạt các sai phạm trong hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng SCB đã bị phát hiện qua thanh tra, để được Ngân hàng Nhà nước tiếp tục cho phép tái cơ cấu, thực hiện huy động vốn từ các tổ chức, cư dân và thực hiện hoạt động cấp tín dụng, Trương Mỹ Lan đã trực tiếp gặp gỡ bàn bạc, trao đổi với Đỗ Thị Nhàn - Trưởng đoàn thanh tra và chỉ đạo Võ Tấn Hoàng Văn - Tổng giám đốc Ngân hàng SCB 04 lần trực tiếp đưa tổng cộng số tiền 5,2 triệu USD cho Đỗ Thị Nhàn. 

  • Do đó, cần áp dụng khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm a, b khoản 4 Điều 353 và khoản 4 Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trương Mỹ Lan với mức án nghiêm khắc. 
  • Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu ý kiến: Liên quan đến việc khắc phục hậu quả thiệt hại của vụ án, cơ quan điều tra đã kê biên rất nhiều tài sản của Trương Mỹ Lan. Ngoài ra, theo văn bản của ông Justin Chiu – Giám đốc điều hành công ty CK Asset Holding Limited thì Tập đoàn CK đã làm việc với bị cáo Lan cũng như tiếp xúc lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh về việc đầu tư vào các dự án của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát cho thấy bị cáo hoàn toàn có khả năng khắc phục thiệt hại. 
    • Về nội dung này, Hội đồng xét xử như sau: Tại văn bản ngày 27/3/2024, ông Justin Chiu chỉ nêu khả năng, tầm nhìn của bị cáo Trương Mỹ Lan đồng thời có nguyện vọng được tạo điều kiện vì các nhà đầu tư quan tâm có thể có bất kỳ khoản đầu tư và phát triển dự án nào. Xét thấy, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Chính phủ Việt Nam nói chung luôn đồng hành và tạo mọi điều kiện cho các nhà đầu tư vào hợp tác đầu tư tại Việt Nam. Theo đó, các nhà đầu tư được lựa chọn hình thức đầu tư nêu tại Điều 21 và được bảo đảm đầu tư theo quy định tại Chương II Luật đầu tư năm 2023. Tuy nhiên, trong phạm vi xét xửkhắc phục hậu quả của vụ án này thì văn bản trên không nêu được cụ thể khoản đầu tư cho Dự án nào thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và giá trị đầu tư là bao nhiêu, hình thức đầu tư là gì. Do đó, không có cơ sở xem đây là căn cứ bị cáo có khả năng khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại đã xảy ra. 

Bùi Anh Dũng - Nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng SCB,, trong khoảng thời gian từ ngày 10/4/2013 đến ngày 22/9/2022 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách chỉ đạo nhân viên dưới quyền lập, đồng thời trực tiếp ký hợp thức 611 hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng SCB, cụ thể: 

  • Từ ngày 10/4/2013 đến ngày 04/12/2020, Bùi Anh Dũng đã ký hợp thức hồ sơ 404 hồ sơ vay vốn, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 187.607.411.985.964 đồng. 
  • Từ ngày 09/12/2020 đến ngày 22/9/2022, Bùi Anh Dũng đã ký hợp thức hồ sơ 207 hồ sơ vay vốn, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 104.259.251.533.389 đồng, gây thiệt hại số tiền 26.331.115.549.969 đồng. Do đó phải áp dụng a, b khoản 4 Điều 353 và khoản 4 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt đối với bị cáo Bùi Anh Dũng với mức án tương xứng. 

Đinh Văn Thành - Nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 28/6/2012 đến ngày 06/12/2020 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách chỉ đạo nhân viên dưới quyền lập, đồng thời ký hợp thức 479 hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng SCB, cụ thể: 

  • Từ ngày 28/6/2012 đến ngày 19/10/2017, Đinh Văn Thành ký hợp thức 174 hồ sơ vay vốn, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 42.770.576.766.947 đồng. 
  • Từ ngày 09/02/2018 đến ngày 06/12/2020, Đinh Văn Thành đã ký hợp thức 303 hồ sơ vay vốn, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 189.103.311.784.850 đồng, gây thiệt hại số tiền 99.677.797.026.627 đồng. 

Võ Tấn Hoàng Văn - Nguyên Tổng Giám đốc, Thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 18/11/2013 đến ngày 25/7/2020 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách chỉ đạo nhân viên dưới quyền lập, đồng thời ký hợp thức 638 hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng SCB, cụ thể: 

  • Từ ngày 18/11/2013 đến ngày 11/12/2017, Võ Tấn Hoàng Văn đã ký hợp thức hồ sơ cho 290 hồ sơ vay vốn, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 60.502.828.919.850 đồng. 
  • Từ ngày 09/02/2018 đến ngày 25/7/2020, Võ Tấn Hoàng Văn đã ký hợp thức hồ sơ 348 hồ sơ vay vốn, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 192.434.674.843.029 đồng, gây thiệt hại số tiền 101.247.189.799.951 đồng. 

Tạ Chiêu Trung - Nguyên Thành viên HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 27/6/2014 đến ngày 29/3/2018 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách ký hợp thức 106 hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng SCB, cụ thể: 

  • Từ ngày 27/6/2014 đến ngày 19/10/2017, Tạ Chiêu Trung đã ký hợp thức hồ sơ của 97 hồ sơ vay vốn, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 37.407.393.257.108 đồng. 
  • Từ ngày 09/02/2018 đến ngày 29/3/2018, Tạ Chiêu Trung đã ký hợp thức hồ sơ 09 khoản vay, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 4.400.366.621.404 đồng, gây thiệt hại số tiền 4.773.572.739.437 đồng. 

Do đó phải áp dụng tại điểm a, b khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xử phạt đối với các bị cáo Đinh Văn Thành, Võ Tấn Hoàng Văn, Tạ Chiêu Trung với mức án tương xứng. 

  • Trương Khánh Hoàng - Nguyên quyền Tổng Giám đốc Ngân hàng SCB, Phó Tổng Giám đốc Thường trực phụ trách Khối doanh nghiệp, Khối tái thẩm định, trong khoảng thời gian từ ngày 10/9/2019 đến ngày 01/12/2021 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách chỉ đạo nhân viên dưới quyền lập, đồng thời ký khống 386 hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng SCB, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 182.842.707.471.189 đồng, gây thiệt hại cho SCB số tiền 65.004.011.447.327 đồng. 
  • Trần Thị Mỹ Dung - Nguyên Phó Tổng giám đốc Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 11/9/2019 đến ngày 15/8/2022 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách chỉ đạo nhân viên dưới quyền lập, đồng thời ký khống 617 hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng SCB, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 200.690.614.418.211 đồng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 69.023.359.900.940 đồng. 
  • Hồ Bửu Phương - Phó Tổng Giám đốc phụ trách tài chính của công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư Vạn Thịnh Phát, trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/7/2020 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách tạo lập các Hợp đồng hứa chuyển nhượng cổ phần khống để hợp thức 277 hồ sơ vay vốn tại Ngân hàng SCB, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiểm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 163.155.871.766.846 đồng, gây thiệt hại số tiền 99.228.168.116.343 đồng.
  • Nguyễn Phương Anh - Phó Tổng giám đốc Công ty Sài Gòn Peninsula, trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 07/10/2022 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách quản lý, điều hành việc tìm người đứng tên đại diện theo pháp luật để thành lập hàng loạt công ty, đứng tên cổ phần, vay vốn, ký chứng từ rút, nộp tiền để hợp thức 709 hồ sơ vay vốn khống tại Ngân hàng SCB, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền đặc biệt lớn 297.417.164.330.749 đồng, gây thiệt hại số tiền 128.730.306.663.028 đồng. 
  • Đặng Phương Hoài Tâm - Trưởng Văn phòng HĐQT Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, trong khoảng thời gian từ ngày 15/11/2019 đến ngày 17/10/2022 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách phối hợp với Nguyễn Phương Anh thành lập hoặc sử dụng các pháp nhân công ty, cá nhân đồng thời trực tiếp quản lý, đưa các tài sản vào thế chấp để hợp thức 406 hồ sơ vay vốn khống tại Ngân hàng SCB, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 171.359.100.374.571 đồng, gây thiệt hại số tiền 57.363.787.020.753 đồng.
  • Trương Huệ Vân - Tổng giám đốc công ty Cổ phần đầu tư Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, trong khoảng thời gian từ ngày 09/11/2020 đến ngày 07/10/2022 đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách chỉ đạo Nguyễn Phi Long thành lập, sử dụng 52 công ty không có hoạt động kinh doanh đồng thời lập các phương án kinh doanh không có thật để hợp thức 155 hồ sơ vay vốn khống tại Ngân hàng SCB, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 1.088.240.589.955 đồng, gây thiệt hại số tiền 25.263.099.976 đồng. 
  • Dương Tấn Trước – Tổng Giám đốc công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Tường Việt, trong khoảng thời gian từ tháng 4/2021 đến tháng 6/2021, đã đã giúp Trương Mỹ Lan hợp thức việc rút tiền của Ngân hàng SCB để sử dụng bằng cách sử dụng các pháp nhân công ty cổ phần kinh doanh bất động sản Thuận Tiến, công ty cổ phần đầu tư dịch vụ bất động sản Khánh Minh, công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Tường Việt, công ty TNHH Đầu từ và Thương mại Dịch vụ Việt Đức đứng tên vay vốn, đồng thời lập các phương án kinh doanh không có thật để hợp thức 04 hồ sơ vay vốn khống tại Ngân hàng SCB, giúp sức cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt của Ngân hàng SCB số tiền 4.752.935.046.662 đồng, gây thiệt hại số tiền 605.008.319.728 đồng. 

Do đó phải áp dụng điểm a, b khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt đối với các bị cáo Trương Khánh Hoàng, Trần Thị Mỹ Dung, Hồ Bửu Phương, Nguyễn Phương Anh, Đặng Phương Hoài Tâm, Trương Huệ Vân, Dương Tấn Trước với mức án nghiêm khắc. 

  • Nguyễn Thị Thu Sương - Nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 25/7/2012 đến ngày 30/7/2013, đã ký hợp thức 79 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 6.989.822.937.860 đồng. 
  • Uông Văn Ngọc Ản - Nguyên Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 25/7/2012 đến ngày 11/12/2012, đã ký hợp thức 70 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 2.184.997.491.588 đồng. 
  • Nguyễn Thị Phương Loan - Nguyên Thành viên HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 11/12/2012 đến ngày 13/02/2018, đã ký hợp thức 153 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 59.417.877.706.639 đồng. 
  • Võ Thành Hùng - Nguyên Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 25/7/2012 đến ngày 27/10/2014, đã ký hợp thức 92 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 12.440.152.347.291 đồng. 
  • Trầm Thích Tồn - Nguyên Thành viên HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 25/7/2012 đến ngày 24/5/2013, đã ký hợp thức 80 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lạn rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 7.176.084.071.948 đồng. 
  • Phạm Văn Phi – Nguyên Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 28/6/2012 đến ngày 09/12/2016, đã ký hợp thức 311 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 23.485.948.509.563 đồng. 
  • Nguyễn Anh Phước - Nguyên là Thành viên Hội đồng Kinh doanh và Đầu tư Trung Ương, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc Ngân hàng SCB Chỉ nhánh Sài Gòn, Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch, trong khoảng thời gian từ ngày 19/9/2014 đến ngày 12/02/2018, đã ký hợp thức 31 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 16.583.933.231.624 đồng. 
  • Lê Khánh Hiền - Nguyên Tổng Giám đốc kiêm Thành viên Hội đồng quản trị, Phó chủ tịch Hội đồng tín dụng Hội sở SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 28/6/2012 đến ngày 20/5/2013, đã kỷ hợp thức 72 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 3.877.999.345.309 đồng. 
  • Trần Thuận Hòa - Nguyên Thành viên HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 25/7/2012 đến ngày 11/12/2012, đã ký hợp thức 71 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 2.371.258.625.677 đồng. 
  • Võ Triệu Lân – Nguyên Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Chợ Lớn, trong khoảng thời gian từ ngày 17/7/2013 đền ngày 29/10/2015, đã ký hợp thức 35 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 9.637.167.350.612 đồng.
  • Võ Văn Tường – Nguyên Giám đốc Phòng Tái thẩm định SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 28/6/2012 đến ngày 13/5/2013, đã ký hợp thức 72 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 3.877.999.345.309 đồng. 
  • Phạm Mạnh Cường – Nguyên Giám đốc Phòng Tái thẩm định kiêm Thành viên Hội đồng Kinh doanh và Đầu tư Hội sở Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 20/01/2015 đến ngày 31/8/2015, đã ký hợp thức 50 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 1.946.485.417.627 đồng. 
  • Nguyễn Lâm Anh Vũ – Nguyên Phó Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Bến Thành, trong khoảng thời gian từ ngày 13/8/2014 đến ngày 31/8/2015, đã ký hợp thức 112 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 3.762.855.288.858 đồng. 
  • Nguyễn Huỳnh Lan Chi - Phó Giám đốc phụ trách, Giám đốc Phòng Tái thẩm định, Thành viên Hội đồng Kinh doanh và Đầu tư Hội sở Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 23/12/2015 đến ngày 09/02/2018, đã ký hợp thức 112 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 18.282.357.246.771 đồng. 
  • Chu Lập Cơ - Chủ tịch HĐQT công ty cổ phần đầu tư Times Square, đã ký Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông ngày 10/12/2012, Quyết định số 13/QĐĐHĐCĐ-QTTĐ ngày 10/12/2012 của Đại hội đồng cổ đông, Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 12/12/2012, Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 15/8/2017 với nội dung thế chấp tài sản của công ty Times Square hợp thức cho 73 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại 9.116.811.915.677 đồng. 

Do đó, phải áp khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xử phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu Sương, Uông Văn Ngọc Ản, Võ Thành Hùng, Trầm Thích Tồn, Trần Thuận Hòa, Lê Khánh Hiền, Phạm Văn Phi, Võ Văn Tường, Phạm Mạnh Cường, Võ Triệu Lân, Nguyễn Lâm Anh Vũ, Chu Nap Kee Eric (Chu Lập Cơ), Nguyễn Anh Phước, Nguyễn Huỳnh Lan Chi, Nguyễn Thị Phương Loan. 

  • Đỗ Phú Huy – Nguyên Chủ tịch Ủy ban Kinh doanh và Đầu tư, Thành viên Hội đồng Tín dụng Hội sở Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 10/12/2012 đến ngày 21/9/2022, đã kỷ hợp thức 696 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 490.015.479.931.293 đồng. 
  • Nguyễn Văn Thanh Hải – Nguyên Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 28/6/2012 đến ngày 30/12/2020, đã ký hợp thức 649 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 369.818.550.576.511 đồng. 
  • Nguyễn Cửu Tính – Nguyên Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Cống Quỳnh, Thành viên Hội đồng Kinh doanh và Đầu tư Hội sở Ngân hàng SCВ, trong khoảng thời gian từ ngày 14/11/2013 đến ngày 01/12/2021, đã ký hợp thức 372 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 205.955.930.472.961 đồng. 
  • Chiêm Minh Dũng – Nguyên Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 20/11/2012 đến ngày 04/4/2019, đã ký hợp thức 362 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 140.713.396.944.669 đồng. 
  • Mai Văn Sáu Nhở - Nguyên Giám đốc Phòng Tái thẩm định Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 10/9/2019 đến ngày 23/11/2020, đã ký hợp thức 225 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 135.087.409.777.721 đồng. 
  • Bùi Nhân - Phó Giám đốc Khối Tái thẩm định, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 23/11/2020 đến ngày 21/09/2022, đã ký hợp thức 286 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 133.589.309.717.065 đồng. 
  • Từ Văn Tuấn – Nguyên Giám đốc Trung tâm kinh doanh khách hàng Wholesale Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 01/6/2020 đến ngày 28/4/2022, đã ký hợp thức 149 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 130.866.117.680.130 đồng. 
  • Diệp Bảo Châu - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 10/12/2012 đến ngày 01/12/2021, đã ký hợp thức 294 hồ so vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB với vai trò là thành viên Hội đồng tín dụng, thành viên Hội đồng Kinh doanh và đầu tư Hội sở, Phó Tổng Giám đốc, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 122.350.011.522.903 đồng. 
  • Mai Hồng Chín – Nguyên Giám đốc Phòng Tái thẩm định Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 20/9/2018 đển ngày 28/6/2019, đã ký hợp thức 95 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 94.031.009.129.398 đồng. 
  • Trần Hoàng Giang – Nguyên Giám đốc Phòng Tái Thẩm định Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 07/10/2020 đến ngày 02/6/2022, đã kỷ hợp thức 208 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện đề 220 Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 67.015.051.464.263 đồng. 
  • Lê Anh Phương – Nguyên Phó Giám đốc, Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Sài Gòn, trong khoảng thời gian từ ngày 24/8/2017 đến ngày 09/10/2020, đã ký hợp thức 119 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, liên hệ với Đỗ Xuân Nam - Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần tư vấn - dịch vụ về tài sản bất động sản DATC để phát hành 01 chứng thư nâng giá trị tài sản đảm bảo để hợp thức cho 04 hồ soơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 72.374.921.289.423 đồng. 
  • Phan Tấn Khôi – Nguyên Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Đông Sài Gòn, trong khoảng thời gian từ ngày 04/6/2018 đến ngày 25/12/2019, đã ký hợp thức 40 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 39.003.703.736.394 đồng. 
  • Lưu Chấn Nguyên – Nguyên Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Củ Chi, trong khoảng thời gian từ ngày 21/9/2018 đến ngày 26/12/2019, đã ký hợp thức 27 hổ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 28.399.844.763.162 đồng. 
  • Khổng Minh Thế - Giám đốc Phòng Tái thẩm định Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 18/11/2013 đến ngày 21/9/2022, đã ký hợp thức 201 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB với vai trò là Phó Giám đốc, Giám đốc Phòng tái thẩm định, Phó Giám đốc Khối Phê duyệt tín dụng, Thành viên Hội đồng Kinh doanh và Đầu tư Hội sở SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 19.934.032.993.538 đồng. 
  • Hồ Bảo Ngọc – Nguyên Phó Giám đốc phụ trách, Giám đốc Ngân hàng SCB Chỉ nhánh Phạm Ngọc Thạch, trong khoảng thời gian từ ngày 10/7/2017 đến ngày 04/3/2019, đã ký hợp thức 21 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 15.875.887.693.082 đồng. 
  • Nguyễn Anh Thép – Nguyên Phó Giám đốc Ngân hàng SCB Chi nhánh Cống Quỳnh, Giám đốc Ngân hàng SCB Chỉ nhánh Sài Gòn, trong khoảng thời gian từ ngày 01/8/2017 đến ngày 17/11/2021, đã ký hợp thức 19 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 15.272.015.000.246 đồng. 
  • Hoàng Minh Hoàn - Nguyên là Quyền Tổng Giám đốc Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 30/7/2020 đến ngày 21/9/2022, đã ký hợp thức 51 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 2.449.255.661.195 đồng.
  • Nguyễn Ngọc Tú – Nguyên Phó Giám đốc Ngân hàng SCB Chỉ nhánh Cống Quỳnh, Giám đốc Hub cho vay bất động sản Hồ Chí Minh 2, trong khoảng thời gian từ ngày 09/3/2021 đến ngày 22/9/2022, đã ký hợp thức 118 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 2.290.033.103.898 đồng. 
  • Huỳnh Thiên Văn - Giám đốc Kênh kinh doanh trực tiếp Khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 19/7/2021 đến ngày 22/9/2022, đã ký hợp thức 156 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 1.701.755.706.748 đồng. 
  • Phạm Thế Quảng – Nguyên Giám đốc Phòng Khách hàng doanh nghiệp, Phó Giám đốc Ngân hàng SCB Chỉ nhánh Bến Thành,, trong khoảng thời gian từ ngày 06/6/2020 đến ngày 26/9/2022, đã ký hợp thức 57 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 697.998.271.918 đồng. 
  • Lương Thị Hồng Quế - Nguyên Giám đốc phòng Phê duyệt tín dụng khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng SCB, trong khoảng thời gian từ ngày 13/11/2021 đến ngày 21/9/2022, đã ký hợp thức 46 hồ sơ vay vốn trái quy định tại Ngân hàng SCB, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 348.812.406.941 đồng.
  • Bùi Đức Khoa – Phó Tổng giám đốc công ty cổ phần Natural Land, trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến ngày 17/10/2022, thực hiện chỉ đạo của Nguyễn Ngọc Dương đã tìm kiếm 96 cá nhân và chuyển thông tin cho nhóm Nguyễn Phương Anh, để thành lập, sử dụng 77 công ty không có hoạt động kinh doanh trên thực tế và 19 cá nhân đứng tên tài sản, cổ phần, vốn góp tại các công ty thuộc Hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát, đưa vào hợp thức 166 hồ sơ vay vốn trái quy định, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 154.880.368.569.677 đồng. 
  • Nguyễn Thị Khánh Vân – Nhân viên công ty cổ phần Natural Land, trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến ngày 17/10/2022, thực hiện chỉ đạo của Nguyễn Ngọc Dương đã tìm kiếm 38 cá nhân và chuyển thông tin cho nhóm Nguyễn Phương Anh để thành lập, sử dụng 33 công ty không có hoạt động kinh doanh trên thực tế và 07 cá nhân đứng tên tài sản, cổ phần, vốnốn góp tại các công ty thuộc Hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát, đưa vào hợp thức 64 hồ sơ vay vốn trái quy định, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 40.327.716.817.135 đồng. 
  • Trần Thị Kim Chi – Nhận viên công ty cổ phần Natural Land, trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến ngày 17/10/2022, đã tìm kiếm 37 cá nhân và chuyển thông tin các cá nhân cho nhóm Nguyễn Phương Anh để thành lập, sử dụng 32 công ty không có hoạt động kinh doanh trên thực tế và 05 cá nhân đứng tên tài sản, cổ phần, vốn góp tại các công ty thuộc Hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát, đưa vào hợp thức 47 hồ sơ vay vốn trái quy định, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 222 37.583.482.194.767 đồng. 
  • Nguyễn Phi Long – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lavifood, đã chỉ đạo nhân viên dưới quyền thành lập 52 công ty không có hoạt động kinh doanh trên thực tế đồng thời phối hợp với nhân viên Ngân hàng SCB tạo lập 105 hồ soơ vay vốn trái quy định, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 1.396.340.331.658 đồng. 
  • Đặng Quang Nguyên – Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lavifood, theo chỉ đạo của Trương Huệ Vân và Nguyễn Phi Long, đã trực tiếp thành lập, quản lý 26 công ty không có hoạt động kinh doanh trên thực tế đồng thời phối hợp với nhân viên Ngân hàng SCB sử dụng các phương án kinh doanh không có thật liên quan đến công ty Laviffod tạo lập 61 hồ sơ vay vốn trái quy định, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng, gây thiệt hại tổng số tiền 804.584.517.877 đồng. Cao Việt Dũng - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm người đại diện pháp luật của Công ty Tường Việt đã ký Biên bản họp Hội đồng thành viên, Thỏa thuận cấp hạn mức tín dụng cho công ty Tường Việt để SCB hợp thức hồ sơ vay vốn, dẫn đến hậu quả Trương Mỹ Lan chiếm đoạt tiền vay để sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 1.165.797.319.727 đồng. 
  • Nguyễn Thanh Tùng – Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần dầu khí Đông Phương, đã đồng ý để Trương Mỹ Lan sử dụng 35 pháp nhân liên quan đến công ty Đông Phương để tạo lập 37 hồ sơ vay 1.720,88 tỷ đồng trái quy định tại Ngân hàng SCB để bị cáo được sử dụng 11 khoản vay với tổng số tiền 443,6 tỷ đồng nhằm chỉ phí cho hoạt động của công ty Đông Phương. Hành vi của bị cáo đã tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan rút 1.277,28 tỷ đồng của Ngân hàng SCB sử dụng vào mục đích cá nhân, gây thiệt hại tổng số tiền 850.135.465.102 đồng. 
  • Đào Chí Kiên – Phó Tổng giám đốc công ty cổ phần dầu khí Đông Phương, thực hiện chỉ đạo của Nguyễn Thanh Tùng, đã trực tiếp chuyển thông tin 11 công ty cho nhân viên Ngân hàng SCB để tạo lập 11 hồ sơ vay vốn khống, tạo điều kiện để Tùng rút 443,6 tỷ đồng của Ngân hàng SCB sử dụng cho hoạt động của công ty Đông Phương, gây thiệt hại cho SCB số tiền 356.330.746.706 đồng. 
  • Lê Văn Chánh – Nguyên Giám đốc định giá và quản lý tài sản đảm bảo Ngân hàng SCB, từ năm 2017 đến năm 2019, theo chỉ đạo của Võ Tấn Hoàng Văn đã liên hệ với Lê Kiều Trang (Thẩm định viên – Phó giám đốc Công ty định giá Exim) phát hành 17 chứng thư nâng khống giá trị tài sản đảm bảo để nhân viên Ngân hàng SCB đưa vào hợp thức hồ sơ vay vốn của 11 khách hàng, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan giải ngân số tiền 1.140,861 tỷ đồng sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 984.471.402.939 đồng. 
  • Bùi Ngọc Sơn – Nguyên nhân viên Phòng tái thẩm định Ngân hàng SCB, từ năm 2019 đến năm 2022, theo chỉ đạo từ Trần Thị Mỹ Dung đã thông qua Trần Văn Nhị và Hồ Bình Minh liên hệ với các công ty thẩm định giá để phát hành 04 chứng thư nâng khống giá trị đối với 03 tài sản đảm bảo để Ngân hàng 223 SCB đưa vào hợp thức hồ sơ vay vốn, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan giải ngân số tiền 120.226,35 tỷ đồng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền là 121.778.735.492.120 đồng. Trần Văn Nhị - Là người môi giới các công ty thẩm định giá cho Ngân hàng SCB, năm 2020 theo đề nghị của Bùi Ngọc Soơn, Nhị đã liên hệ với Trần Thị Kim Ngân – Tổng Giám đốc công ty Thẩm định giá Thiên Phú thực hiện phát hành 02 chứng thư thẩm định giá ghi lùi ngày, nâng khống giá trị tài sản đảm bảo để Ngân hàng SCB đưa vào hợp thức hồ sơ vay vốn của 65 khoản vay, tạo điều kiện để Trương Mỹ Lan giải ngân số tiền 105.656,35 tỷ đồng sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 110.064.140.771.180 đồng.
  • Trần Thị Kim Ngân - Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thẩm định giá Thiên Phú, sau khi thống nhất với Trần Văn Nhị đã chỉ đạo Trần Tuấn Hải - Thẩm định viên Công ty Cổ phần Thẩm định giá Thiên Phú phát hành 02 chứng thư thẩm định giá nâng khống giá trị tài sản và ghi lùi ngày phát hành chứng thư để Ngân hàng SCB đưa vào hợp thức hồ sơ vay vốn, tạo điều kiện cho Trương Mỹ Lạn giải ngân, sử dụng tiền của Ngân hàng SCB. Hành vi của các bị cáo đã tạo điều kiện, giúp sức cho Trương Mỹ Lan sử dụng tiền của Ngân hàng SCB, gây thiệt hại số tiền 110.064.140.771.180 đồng. 
  • Hồ Bình Minh - Phó Giám đốc Công ty TNHH Thẩm định giá MHD, đã ký với vai trò thẩm định viên tại 02 chứng thư thẩm định giá, nâng khống giá trị tài sản, phát hành lùi ngày tạo điều kiện để nhân viên Ngân hàng SCB đưa vào làm tài sản đảm bảo hợp thức 02 hồ sơ vay vốn. Ngoài ra, cũng với 02 tài sản nói trên, Hồ Bình Minh còn môi giới cho công ty Tầm Nhìn Mới phát hành chứng thư thẩm định giá để hưởng hoa hồng, trong đó bị cáo trực tiếp soạn thảo báo cáo, chứng thư Thẩm định giá nâng khống giá trị tài sản, để Lê Huy Khánh – Giám đốc công ty Tầm Nhìn Mới ký phát hành chứng thư tạo điều kiện để nhân viên Ngân hàng SCB đưa vào làm tài sản đảm bảo hợp thức hồ sơ vay của 03 khách hàng, giải ngân số tiền 14.570 tỷ đồng cho Trương Mỹ Lan sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 11.714.594.720.940 đồng. Do 02 chứng thư thẩm định của 02 công ty cùng được sử dụng chung cho 02 khoản vay nên xác định thiệt hại do hành vi của Hồ Bình Minh gây ra là 11.714.594.720.940 đồng. 
  • Lê Huy Khánh – Giám đốc công ty TNHH Thẩm định giá Tầm Nhìn Mới trực tiếp ký phát hành 02 chứng thư Thẩm định giá do Hồ Bình Minh soạn thảo, nâng khống giá trị tài sản và ghi lùi ngày phát hành chứng thư tạo điều kiện để nhân viên Ngân hàng SCB đưa vào làm tài sản đảm bảo, hợp thức 03 hồ sơ vay vốn, giải ngân tổng số tiền 14.570 tỷ đồng cho Trương Mỹ Lan sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 11.714.594.720.940 đồng. 
  • Lê Kiều Trang - Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Thẩm định giá Exim, từ năm 2017 đến năm 2019, đã trực tiếp ký thẩm định viên đối với 17 chứng thư nâng khống trị giá tài sản đảm bảo, tạo điều kiện để nhân viên Ngân hàng SCB sử dụng hợp thức hồ sơ vay của 11 khách hàng, giải ngân tổng số tiền 1.140,861 224 tỷ đồng để Trương Mỹ Lan sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 984.471.402.939 đồng. 
  • Đỗ Xuân Nam - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần tư vấn Dịch vụ Bất động sản DATC, đã trực tiếp ký phát hành 01 chứng thư, nâng khống giá trị tài sản đảm bảo, tạo điều kiện để nhân viên Ngân hàng SCB sử dụng hợp thức hồ sơ vay vốn của 04 khách hàng, giải ngân tổng số tiền 3.238 tỷ đồng để Trương Mỹ Lan sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 4.277.700.157.387 đồng. 

Do đó phải áp dụng khoản 4 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Chiêm Minh Dũng, Nguyễn Văn Thanh Hải, Hoàng Minh Hoàn, Bùi Nhân, Diệp Bảo Châu, Nguyễn Cửu Tính, Đỗ Phú Huy, Khổng Minh Thế, Trần Hoàng Giang, Từ Văn Tuấn, Mai Hồng Chín, Mai Văn Sáu Nhở, Lương Thị Hồng Quế, Lê Anh Phương, Phan Tấn Khôi, Lưu Chấn Nguyên, Hồ Bảo Ngọc, Nguyễn Anh Thép, Nguyễn Ngọc Tú, Phạm Thế Quảng, Huỳnh Thiên Văn, Bùi Đức Khoa, Nguyễn Thị Khánh Vân, Trần Thị Kim Chi, Nguyễn Phi Long, Đặng Quang Nguyên, Cao Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tùng, Đào Chí Kiên, Lê Văn Chánh, Bùi Ngọc Sơn, Lê Huy Khánh, Hồ Bình Minh, Trần Thị Kim Ngân, Trần Tuấn Hải, Trần Văn Nhị, Đỗ Xuân Nam, Lê Kiều Trang với mức án tương xứng. 

Khi lượng hình, ngoài xem xét số tiền các bị cáo chiếm đoạt, giúp sức chiếm đoạt và số tiền thiệt hại các bị cáo gây ra cho Ngân hàng SCB tại thời điểm khởi tố vụ án. Hội đồng xét xử còn đánh giá vai trò, nhận thức, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: 

  • Đối với các bị cáo Đinh Văn Thành, Võ Tấn Hoàng Văn, Tạ Chiêu Trung, Bùi Anh Dũng, Trương Khánh Hoàng và Trần Thị Mỹ Dung đều là lãnh đạo cấp cao tại Ngân hàng SCB, có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận chỉ đạo của Trương Mỹ Lan, sau đó lên phương án thực hiện và chỉ đạo các bị cáo là cấp dưới thực hiện. 
  • Bị cáo Hồ Bửu Phương – Phó giám đốc phụ trách tài chính Tập đoàn Vạn Thịnh Phát là người lên phương án giải quỹ, đây là khâu cuối cùng trong chuỗi hành vi của các bị cáo, quyết định dòng tiền ra khỏi Ngân hàng SCB. Xét hành vi của các bị cáo là giúp sức tích cực cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt tài sản, gây hậu quả thiệt hại đặc biệt lớn nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng nga chung cho xã hội. 
  • Các bị cáo Nguyễn Phương Anh, Đặng Phương Hoài Tâm đều là nhân viên Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, giữ vai trò là đầu mối liên lạc, phối hợp với Ngân hàng SCB lên phương án vay vốn, trong đó Nguyễn Phương Anh cung cấp pháp nhân, cá nhân đứng tên vay vốn, Đặng Phương Hoài Tâm ngoài cung cấp tài sản đảm bảo còn quản lý các công ty do Nguyễn Phương Anh thành lập nhằm tránh trùng lặp khi chọn lựa pháp nhân vay vốn. Xét các bị cáo mặc dù vai trò có hạn chế hơn so với các bị cáo nói trên nhưng đều giữ vai trò quan trọng trong bước đầu tiên của quy trình cấp tín dụng nên cũng cần có mức hình phạt đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục các bị cáo.
  • Đối với các bị cáo còn lại là lãnh đạo các Khối, Phòng tái thẩm định, phê duyệt tín dụng, các chỉ nhánh SCB tiếp nhận hồ sơ từ hội sở nên thực hiện theo chỉ đạo mà không tuân thủ các quy định của pháp luật. Xét mức độ phạm tội của các bị cáo có phần hạn chế hơn so với các bị cáo nêu trên do tin tưởng và áp lực thực hiện theo chỉ đạo nên cần xem xét khi lượng hình. 
  • Bị cáo Lê Văn Chánh – Nguyên Giám đốc định giá và quản lý tài sản đảm bảo Ngân hàng SCB, có chức năng tham mưu, xây dựng các quy định, hướng dẫn nội bộ SCB trong việc định giá tài sản, công chứng, đăng ký giao dịch, xuất nhập tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, bị cáo không làm đúng chức năng, nhiệm vụ dẫn đến hậu quả thiệt hại đặc biệt lớn mà một phần nguyên nhân là do tài sản đảm bảo bị nâng khống, không đảm bảo tính pháp lý. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với vai trò và mức độ phạm tội của bị cáo. 
  • Các bị cáo Nguyễn Thị Thu Sương, Uông Văn Ngọc Ản, Trầm Thích Tồn, Lê Khánh Hiền, Trần Thuận Hòa, Võ Văn Tường, Nguyễn Lâm Anh đều có thời gian thực hiện hành vi phạm tội ngắn từ vài tháng đến 01 năm, trong giai đoạn SCB vừa hợp nhất năm 2012- 2013 với mong muốn các Phương án tái cơ cấu nhanh chóng đưa SCB thoát khỏi tình trạng khó khăn. 
  • Các bị cáo Võ Thành Hùng, Mai Văn Sáu Nhớ, Đỗ Phú Huy, Lương Thị Hồng Quế, Phạm Văn Phi, Phạm Mạnh Cường, Nguyễn Anh Phước, Nguyễn Văn Thanh Hải, Hoàng Minh Hoàn, Nguyễn Anh Thép khi nhận thức được sai phạm khi thực hiện các khoản vay của nhóm Trương Mỹ Lan đã phản đối, chấp nhận bị điều chuyển qua đơn vị khác hoặc chủ động xin nghỉ việc nên mức độ phạm tội có hạn chế. 
  • Đối với các bị cáo Lê Huy Khánh, Hồ Bình Minh, Trần Văn Nhị, Trần Thị Kim Ngân, Trần Tuấn Hải, Đỗ Xuân Nam và Lê Kiều Trang, thực hiện môi giới, thẩm định giá tài sản đảm bảo là một trong những điều kiện để SCB thực hiện cấp tín dụng. Tuy nhiên, qua diễn biến tại phiên tòa xác định các khoản vay này đều đã được thống nhất chủ trương và thực hiện giải ngân. Việc định giá tài sản đảm bảo chỉ nhằm hợp thức hồ sơ sau giải ngân để tránh bị phát hiện vi phạm khi thanh, kiểm tra, hậu quả thiệt hại đã xảy ra nên vai trò giúp sức của các bị cáo là thứ yếu, không đáng kể. 
  • Đối với các bị cáo Bùi Đức Khoa, Nguyễn Thị Khánh Vân, Trần Thị Kim Chi đều là nhân viên thuộc hệ sinh thái Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, xuất phát từ việc là cấp dưới của Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Ngọc Dương nên thực hiện theo chỉ đạo tìm kiếm cá nhân đứng tên cổ đông, thành viên góp vốn thành lập công ty. Xét các bị cáo chỉ tham gia cung cấp cá nhân, pháp nhân vay vốn, không lên phương án vay vốn, thực hiện hành vi phạm tội do tin tưởng và làm theo chỉ đạo nên vai trò giúp sức có hạn chế. 
  • Đối với các bị cáo Chu Lập Cơ, Cao Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tùng tham gia cho mượn pháp nhân đứng tên vay vốn, lập phương án kinh doanh hoặc tham gia bảo lãnh các khoản vay; 
  • Bị cáo Đào Chí Kiên là nhân viên thực hiện theo chỉ đạo của Nguyễn Thanh Tùng. Xét các bị cáo có quan hệ lệ thuộc nhất định đối với Trương Mỹ Lan đồng thời chỉ tham gia một khâu trong chuỗi hành vi chiếm đoạt, gây thiệt hại của bị cáo Lan nên giữ vai trò đồng phạm có hạn chế. Mặt khác, ngoài dùng tài sản của mình để bảo lãnh các khoản vay như bị cáo Chu Lập Cơ, các bị cáo Cao Việt Dũng và Nguyễn Thanh Tùng đều tích cực thanh toán dư nợ các khoản vay do công ty của mình đứng tên vay vốn nên Hội đồng xét xử giảm cho các bị cáo một mức hình phạt. 
  • Đỗ Thị Nhàn – Vụ trưởng Vụ thanh tra giám sát các tổ chức tín dụng, Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước - Trưởng đoàn thanh tra, quá trình tiến hành thanh tra Ngân hàng SCB giai đoạn 2017 – 2018 theo Quyết định số 315/QĐ-TTGSNH1 ngày 01/8/2017 và Quyết định số 85/QĐ-TTGSNH1 ngày 10/4/2018, đã 04 lần nhận tiền hối lộ của Trương Mỹ Lan thông qua Võ Tấn Hoàng Văn – Tổng giám đốc Ngân hàng SCB tổng cộng là 5,2 triệu USD để chỉ đạo cấp dưới báo cáo, tổng hợp và ban hành Dự thảo Kết luận thanh tra không khách quan, trung thực, không phản ánh đúng thực trạng tài chính, làm giảm đi các sai phạm của Ngân hàng SCB để ngân hàng này tiếp tục được tái cơ cấu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Xét số tiền bị cáo nhận hối lộ đặc biệt lớnđây là một trong những tội phạm tham những nguy hiểm nhất, không chỉ xâm phạm đến uy tín và hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức mà còn gây tác hại cho xã hội về nhiều mặt, ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, quá trình điều tra và tại phiên tòa chưa thành khẩn khai báo nên lẽ ra cần áp dụng điểm a khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, xét bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền nhận hối lộ do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. 
  • Quá trình thanh tra tại Ngân hàng SCB năm 2017 - 2018 của Đoàn thanh tra do Cơ quan TTGSNH chủ trì và ban hành kết luận, liên quan đến nội dung, kết quả thanh tra, Nguyễn Văn Hưng - Phó Chánh thanh tra phụ trách Cơ quan TTGSNH là người trực tiếp chỉ đạo Đỗ Thị Nhàn - Trưởng Đoàn Thanh để Nhàn chỉ đạo Nguyễn Thị Phụng và Tổ tổng hợp gồm Vũ Khánh Linh, Nguyễn Tuấn Anh và Bùi Tuấn Khoa lập, chinh sửa các báo cáo của Đoàn Thanh tra, dự thảo Kết luận thanh tra. 
  • Các thành viên còn lại gồm Vương Đỗ Anh Tuấn, Trần Văn Tuấn, Lê Thanh Hà, Nguyễn Văn Thùy, Trương Việt Hưng, Nguyễn Duy Phương đồng ý theo ý kiến chỉ đạo, đã báo cáo không đầy đủ, không trung thực, bao che sai phạm của Ngân hàng SCB lên lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và Chính Phủ, ra Kết luận thanh tra số 3959/KL-TTGSNH1 ngày 04/12/2018 theo hướng: Không đưa Ngân hàng SCB vào diện kiểm soát đặc biệt, để Ngân hàng SCB tiếp tục thực hiện tái cơ cấu; không chuyển hồ sơ sai phạm sang cơ quan điều tra để xử lý theo quy định; ưu tiên áp dụng giải pháp kinh tế dẫn tới không kịp thời ngăn chặn để Trương Mỹ Lan và đồng phạm rút tiền của Ngân hàng SCB sử dụng trái pháp luật. Hậu quả, kể từ ngày ban hành Kết luận thanh tra 04/12/2018 đến ngày vụ án được khởi tố 17/10/2022, Ngân hàng SCB tiếp tục cho 173.627 khách hàng vay 570.669 khoản với tổng số 771.998.544.497.962 đồng. Trong đó các khách hàng thuộc nhóm Trương Mỹ Lan phát sinh 883 khoản vay với 546 lượt khách hàng, giải ngân tổng số tiền 397.618.250.391.361 đồng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 514.102.650.536.206 đồng (gồm 395.196.675.377.097 đồng dư nợ gốc và 118.905.975.159.109 đồng dư nợ lãi). 
  • Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao xác định hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là Ngân hàng SCB tiếp tục cấp tín dụng cho nhóm Trương Mỹ Lan từ sau ngày ban hành Kết luận thanh tra đến khi khởi tố vụ án với tổng dư nợ 514.102.650.536.206 đồng là phù hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận trình bày của bị cáo Lê Thanh Hà tại phiên tòa cho rằng Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao quy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả của tất cả các khoản vay thuộc nhóm Trương Mỹ Lan từ 01/01/2012 đến 17/10/2022. Trong quá trình được Ngân hàng Nhà nước giao nhiệm vụ giám sát Ngân hàng SCB, từ năm 2016 đến tháng 9/2022, mặc dù biết rõ Ngân hàng SCB phải đưa vào diện kiểm soát toàn diện, kiểm soát đặc biệt nhưng Nguyễn Văn Dũng, Võ Văn Thuần, Phan Tấn Trung, Nguyễn Thị Phi Loan và Nguyễn Tín với vai trò là Lãnh đạo Cục II, NHNN Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh, TTGS NHNN Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh và Tổ trưởng Tổ giám sát, đã báo cáo không trung thực các hành vi sai phạm và thực trạng tài chính của Ngân hàng SCB, thu hẹp phạm vi thanh tra, giám sát, tăng room tín dụng hàng năm cho Ngân hàng SCB. Hậu quả tính đến 17/10/2022 có 1.284 khoản vay của nhóm Trương Mỹ Lan còn dư nợ 677.286 tỷ đồng, không có khả năng thu hồi. 
Trách nhiệm về hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:
  • Nguyễn Văn Dũng - Phó Giám đốc NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh phụ trách công tác thanh tra, giám sát, nguyên Cục trưởng Cục II, Cơ quan Thanh tra giám sát, phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả dư nợ của 1.057 khoản vay/693 khách hàng thuộc nhóm Trương Mỹ Lan được Ngân hàng SCB cấp tín dụng từ thời điểm NHNN phê duyệt Kế hoạch tái cơ cấu SCB giai đoạn 2015- 2019 ngày 12/8/2015 đến ngày khởi tố vụ án 17/10/2022, tổng cộng số tiền 606.460.035.012.448 đồng (gồm 452.415.135.468.143 đồng nợ gốc và 154.044.899.544.305 đồng nợ lãi). 
  • Nguyễn Thị Phi Loan – Nguyên Phó Chánh thanh tra phụ trách TTGS NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Cục trưởng Cục II, phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả dư nợ của 1.023 khoản vay/677 khách hàng thuộc nhóm Trương Mỹ Lan được Ngân hàng SCB cấp tín dụng từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước phê duyệt Kế hoạch tái cơ cấu SCB giai đoạn 2015 – 2019 ngày 12/8/2015 đến thời điểm bị cáo nghỉ hưu ngày 31/8/2022, tổng cộng số tiền 605.356.113.949.204 đồng (gồm 451.318.269.676.187 đồng nợ gốc và 154.037.844.273.017 đồng nợ lãi). 
  • Võ Văn Thuần - Phó Chánh thanh tra NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Cục trưởng Cục II, phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả dư nợ của 453 khoản vay/271 khách hàng thuộc nhóm Trương Mỹ Lan được Ngân hàng SCB cấp tín dụng từ thời điểm bắt đầu triển khai Tổ giám sát giai đoạn 2015-2019 ngày 01/3/2016 đến thời điểm Võ Văn Thuần bàn giao việc chỉ đạo Tổ giám sát cho Phan Tấn Trung ngày 17/9/2020, tổng cộng số tiền 228 384.401.891.806.081 đồng (gồm 261.445.274.300.859 đồng nợ gốc và 122.956.617.505.222 đồng nợ lãi). 
  • Phan Tấn Trung - Phó Chánh thanh tra NHNN Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả dư nợ của 526 khoản vay/358 khách hàng thuộc nhóm Trương Mỹ Lan được Ngân hàng SCB cấp tín dụng từ thời điểm bị cáo Võ Văn Thuần bàn giao việc chỉ đạo Tổ giám sát cho bị cáo ngày 17/9/2020 đến ngày khởi tổ vụ án 17/10/2022, tổng cộng số tiền 216.225.449.057.361 đồng (gồm 188.999.144.466.478 đồng nợ gốc và 27.226.304.590.883 đồng nợ lãi). 
  • Nguyễn Tín – Nguyên Tổ trưởng Tổ giám sát giai đoạn 2016 - 2019, phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả dư nợ của 286 khoản vay/197 khách hàng thuộc nhóm Trương Mỹ Lan được Ngân hàng SCB cấp tín dụng từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước phê duyệt Kế hoạch tái cơ cấu SCB giai đoạn 2015 - 2019 đến thời điểm bị cáo nghỉ việc ngày 31/5/2019, tổng cộng số tiền 227.932.096.490.330 đồng (gồm 147.815.397.135.566 đồng nợ gốc và 80.116.699.354.764 đồng nợ lãi). 
    • Do đó, cần áp dụng khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Thị Phụng, Bùi Tuấn Khoa, Vương Đỗ Anh Tuấn, Trần Văn Tuấn, Lê Thanh Hà, Nguyễn Văn Thùy, Nguyễn Tuấn Anh, Vũ Khánh Linh, Trương Việt Hưng, Nguyễn Duy Phương, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Phi Loan, Võ Văn Thuần, Phan Tấn Trung, Nguyễn Tín với mức án nghiêm khắc. 
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử phân hóa vai trò, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau: 

  • Đối với các bị cáo tham gia Đoàn thanh tra: Bị cáo Nguyễn Văn Hưng là người chỉ đạo, giám sát nội dung hoạt động thanh tra của Đoàn thanh tra nhưng lại trực tiếp chỉ đạo Đỗ Thị Nhàn – Trưởng đoàn, Nguyễn Thị Phụng – Phó đoàn và Tổ tổng hợp chỉnh sửa báo cáo thanh tra, xây dựng Dự thảo Kết luận thanh tra không trung thực, số tiền bị cáo vụ lợi cũng cao hơn các bị cáo khác nên phải chịu trách nhiệm chính đối với các sai phạm của Đoàn thanh tra với mức án nghiêm khắc nhất. Bị cáo Nguyễn Thị Phụng – Phó Trưởng đoàn thanh tra, Tổ trưởng Tổ tổng hợp, trực tiếp chỉ đạo các thành viên Tổ tổng hợp soạn thảo Báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn, Dụ thảo Kết luận thanh tra theo chỉ đạo của Đỗ Thị Nhàn và Nguyễn Vặn Hưng nên cũng cần có mức hình phạt đủ nghiêm mới tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. 
  • Các bị cáo là tổ trưởng, thành viên Tổ 2, Tổ 3 và Tổ 4 Đợt 1 gồm Nguyễn Thị Phụng, Vũ Khánh Linh, Bùi Tuấn Khoa, Vương Đỗ Anh Tuấn, Trần Văn Tuấn, Nguyễn Duy Phương và Trương Việt Hưng trực tiếp thanh tra các dự án Mũi Đèn Đỏ, Times Square, 6A, Royal Garden, đều là người biết rõ nhất thực trạng các khoản vay trên nhưng vẫn thực hiện theo chỉ đạo bỏ ngoài kết luận nhiều chỉ số tài chính xấu liên quan đến các dự án này nên mức án cần nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại thuộc Tổ 1 và Tổ 5 Đợt 1. 
  • Đối với bị cáo Lê Thanh Hà – Tổ trưởng Tổ 5 Đợt 1 và Tổ trưởng Tổ 3 Đợt 2, trực tiếp phát hiện, biết rõ tình trạng tài chính rất xấu của Ngân hàng SCB, các sai phạm của khoản vay nhóm 71 khách hàng nhưng vẫn đồng ý thu hẹp phạm vi thanh tra, không kiến nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử lý theo đề xuất của Đỗ Thị Nhàn, liên quan đến hành vi này bị cáo cũng đã nhận của SCB số tiền 14.000 USD và 100.000.000 đồng nên cũng cần có mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo. 

Đối với các bị cáo thực hiện giám sát tại Ngân hàng SCB: 

  • Bị cáo Nguyễn Văn Dũng là người ký quyết định thành lập Tổ giám sát, thực hiện giám sát hoạt động của SCB giai đoạn tháng 03/2016 — 9/2019 và tháng 12/2021 -5/2022, chịu trách nhiệm trước Ngân hàng Nhà nước về kết quả hoạt động của Tổ giám sát, quá trình điều tra và xét xử chưa nộp lại số tiền vụ lợi nên mức án cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cao hơn các bị cáo khác. 
  • Bị cáo Võ Văn Thuần được phân công trực tiếp chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành 02 Tổ giám sát của 02 giai đoạn từ tháng 3/2016 đến tháng 11/2021, bị cáo Phan Tấn Trung ngoài trực tiếp chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành 02 Tổ giám sát của 02 giai đoạn từ tháng 12/2021 – 9/2022, bị cáo còn là Tổ trưởng Tổ giám sát giai đoạn từ tháng 3/2022 – 9/2022, trực tiếp chi đạo Tổ giám sát chỉnh sửa lại báo cáo theo ý chí chủ quan của mình hoặc không có ý kiến chỉ đạo, không báo cáo với Ngân hàng Nhà nước các nội dung mà Tồ giám sát đã báo cáo nên mức án cần nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo Nguyễn Thị Phi Loan mặc dù thực hiện các hành vi sai phạm như cáo trạng xác định nhưng bị cáo không được phân công phụ trách công tác giám sát tại SCB theo các quyết định của Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và Cục thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước; 
  • bị cáo Nguyễn Tín – Tổ trưởng Tổ giám sát giai đoạn từ 3/2016 - 12/2019, thực hiện theo chỉ đạo của Võ Văn Thuần và đã nghị việc vào năm 2019 nên vai trò và phạm vi trách nhiệm có hạn chế do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm cho các bị cáo một mức hình phạt. 
  • Nguyễn Văn Du - Chánh thanh tra Cơ quan TTGSNH, ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung Kết luận thanh tra 3959/KL-TTGSNH1 ngày 04/12/2018. Nội dung Kết luận thanh tra không trung thực, không khách quan, không phản ánh đúng trực trạng tài chính của SCB, gây hậu quả thiệt hại là 514.102.650.536.206 đồng. Lưu Quốc Thắng - Nguyên là Trưởng ban Kiểm soát Ngân hàng SCB giai đoạn từ ngày 17/4/2019 đến ngày 07/7/2022, trong thời gian trên Ngân hàng SCB đã cấp tín dụng đối với 652 khoản vay/438 khách hàng trái quy định pháp luật về ngân hàng. Tuy nhiên, do buông lỏng quản lý, không thực hiện đúng chức năng kiểm tra, giám sát dẫn đến không kịp thời phát hiện xử lý, ngăn chặn để Trương Mỹ Lan rút tiền sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 344.695.58.433.008 đồng. 
  • Phạm Thu Phong – Nguyên Trưởng ban Kiểm soát Ngân hàng SCB giai đoạn từ ngày 20/11/2012 đến ngày 26/12/2018, trong thời gian trên Ngân hàng SCB đã cấp tín dụng đối với 403 khoản vay/338 khách hàng trái quy định pháp luật về ngân hàng. Tuy nhiên, do buông lỏng quản lý, không thực hiện đúng chức năng kiểm tra, giám sát dẫn đến không kịp thời phát hiện xử lý, ngăn chặn để Trương Mỹ Lan rút tiền sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB số tiền 90.317.093.032.112 đồng. 
    • Do đó, cần áp dụng khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Du, Lưu Quốc Thắng và Phạm Thu Phong với mức án tương xứng. Tuy nhiên, qua lời khai của các bị cáo tại phiên tòa công khai cũng như thực tế tình hình quản trị và cấp tín dụng tại Ngân hàng SCB cho thấy, Ban kiểm soát Ngân hàng SCB hầu như không có thực quyền, chịu sự chi phối trực tiếp từ Hội đồng quản trị, liên tục bị né tránh, không hợp tác từ các chỉ nhánh, đơn vị phụ thuộc. Khi nhận thấy không thể hoàn thành nhiệm vụ, bị cáo Phạm Thu Phong cũng đã chủ động xin nghỉ việc nên mức độ phạm tội có hạn chế. 

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Du, mặc dù ký kết luận thanh tra nhưng toàn bộ hoạt động thanh tra cũng như báo cáo kết quả thanh tra tới các cấp có thầm quyền đều đã kết thúc trước khi bị cáo nhận nhiệm vụ Chánh thanh tra, đồng thời bị cáo cũng là người duy nhất trong số các cán bộ thanh tra, giám sát không được hưởng lợi cá nhân từ hoạt động trên nên cũng cần được xem xét đặc biệt khi lượng hình. 

Bị cáo Nguyễn Cao Trí – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm đại diện theo pháp luật công ty cổ phần đầu tư và quản lý giáo dục Văn Lang, tự ý thanh lý Hợp đồng chuyển nhượng 4.575.407 cổ phần công ty Văn Lang trị giá 1.000 tỷ đồng ký ngày 22/01/2021, giữa Nguyễn Cao Trí (do Nguyễn Cao Đức và Trần Lê Diệp Thúy đại diện) và Trương Mỹ Lan (do Hồ Quốc Minh đại diện) nhưng không hoàn trả lại số tiền đã nhận từ bị cáo Lan là 1.000 tỷ đồng. Luật sư bào chữa cho rằng hợp đồng chuyển nhượng nói trên là sự kết chuyển của 03 thỏa thuận đầu tư, chuyển nhượng khác nên việc thanh lý hợp đồng này cũng không làm mất đi quyền lợi của bị cáo Lan và cho rằng chỉ có căn cử xác định bị cáo chiếm đoạt số tiền mua cổ phần công ty cổ phần công nghiệp cao su là 476 tỷ đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm các bên tự nguyện thỏa thuận chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ các hợp đồng trước đó bằng thỏa thuận chuyển nhượng 10% vốn điều lệ công ty Văn Lang thì các thỏa thuận trước đã chấm dứt. Tại phiên tòa, bị cáo và Trựơng Mỹ Lan cũng xác nhận nội dung trên, bị cáo Trí cũng không có ý kiến về số tiền chiếm đoạt Viện kiểm sát quy kết. 

  • Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm bào chữa của luật sư. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên nên cần áp dụng khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo với mức án tương xứng. 

Đối với quan điểm của luật sư đề nghị áp dụng tỷ giá USD tại thời điểm xét xử khi xác định số tiền bị cáo nộp để hoàn trả cho bị cáo Lan, Hội đồng xét xử xét thấy, việc nộp tiền sau khi vụ án đã khởi tố chỉ là biện pháp khắc phục hậu quảđược xem là tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình đối với bị cáo. Nghĩa vụ bồi thường, hoàn trả tiển chiếm đoạt sẽ được thực hiện tại giai đoạn thi hành án. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng ghi nhận bị cáo đã yêu cầu gia đình nộp lại số tiền để khắc phục hậu quả và đưa nhiều bất động sản để đảm bảo khắc phục toàn bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt   


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét