- Về áp dụng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
- + Hành vi phạm tội của các bị cáo bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và tội “Tham ô tài sản”, tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” theo quy định tại khoản 4 Điều 353 và khoản 4 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đều diễn ra trong thời gian tương đối dài, trên nhiều hồ sơ vay vốn khống, thực hiện thẩm định giá nâng khống đối với nhiều tài sản, phát hành nhiều chứng thư thẩm định giá nên đều thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên.
- Do đó, cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi lượng hình đối với các bị cáo. Như vậy, tại phần luận tội đại diện Viện kiểm sát để nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” đối với các bị cáo Lê Huy Khánh, Hồ Bình Minh, Trần Thị Kim Ngân, Trần Tuấn Hải, Trần Văn Nhị và Lê Kiều Trang là chưa phù hợp quy định pháp luật.
- Riêng bị cáo Đỗ Xuân Nam chỉ tham gia ký phát hành chứng thư số 254.9/CT-DCSC ngày 01/4/2019 phản ánh không đúng giá trị thực của tài sản là bất động sản tọa lạc số 274 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;
- Bị cáo Chu Lập Cơ ký biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, Nghị quyết công ty cổ phần đầu tư Times Square đồng ý sử dụng Tòa nhà Times Square làm tài sản đảm bảo cho các khoản vay thuộc Phương án Times Square nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” đối với các bị cáo.
- + Đối với bị cáo Đỗ Thị Nhàn, 02 lần gặp gỡ trao đổi với Trương Mỹ Lan, nhiều lần chỉnh sửa dự thảo Báo cáo kết luận Đoàn thanh tra, Dự thảo Kết luận thanh tra, 04 lần nhận tiền hối lộ của Trương Mỹ Lan thông qua Võ Tấn Hoàng Văn nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”.
- Do đó, cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
- Về áp dụng tình tiết “Phạm tội có tổ chức” và “Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội” quy định tại điểm a, m khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
- + Quá trình điều tra và tranh tụng công khai tại phiên tòa xác định để giúp Trương Mỹ Lan chiếm đoạt tiền, gây thiệt hại cho Ngân hàng SCB bằng thủ đoạn cấp tín dụng ngược, cụ thể:
- Sau khi nhận chỉ đạo từ Trương Mỹ Lan yề nhu cầu sử dụng tiền, các bị cáo Đinh Văn Thành, Bùi Anh Dũng, Võ Tấn Hoàng Văn, Tạ Chiêu Trung, Trương Khánh Hoàng và Trần Thị Mỹ Dung thống nhất chủ trương, phân bổ chi nhánh thực hiện. Sau đó, bị cáo Dung thông báo để Nguyễn Phương Anh chỉ đạo nhân viên tìm người đứng tên thành lập các pháp nhân, hoặc thông tin cá nhân để SCB làm phương án vay vốn. Đồng thời Nguyễn Phương Anh liên hệ Đặng Phương Hoài Tâm để lấy thông tin như tên công ty, địa chỉ trụ sở để Nguyễn Phương Anh chỉ đạo nhân viên thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp tại cơ quan chức năng.
- Bị cáo Tâm cũng là người quản lý toàn bộ pháp nhân, cá nhân tham gia góp vốn cũng như tài sản đảm bảo của Trương Mỹ Lan để tránh sự trùng lập, chồng chéo, gây nghi ngờ khi hồ sơ vay vốn bị kiểm tra. Toàn bộ thông tin được chuyển cho SCB để làm hồ sơ vay vốn sau đó chuyển lại cho Nguyễn Phương Anh để chuyển cho các cá nhân, pháp nhân đứng tên ký hoàn tất. Sau khi tiền giải ngân về tài khoản bị cáo Dung thông báo để Nguyễn Phương Anh biết nhằm liện hệ với Hồ Bửu Phương để lên phương án giải quỹ bằng thủ đoạn ký các hợp đồng hứa chuyển nhượng cổ phần.
- Hành vi của các bị cáo thể hiện sự câu kết chặt chẽ, tổ chức phân công nhiệm vụ rõ ràng, hành vi của bị cáo này là tiền đề phát sinh hành vi của các bị cáo khác nên thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức”. Ngoài ra, khi thực hiện các bị cáo còn dùng thủ đoạn tinh vi nhằm che dấu sự thanh, kiểm tra của các cơ quan chức năng, cụ thể:
- Các công ty sau khi thành lập đều được mua số điện thoại liên lạc, giao cho các nhân viên lễ tân thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát quản lý, trực điện thoại và trả lời khi có người liên lạc xác minh, trung bình mỗi nhân viên được giao quản lý khoảng 70 điện thoại di động có gắn sim điện thoại của từng công ty, quá trình điều tra các nhân viên này đã giao nộp lại; dùng thủ đoạn lập hợp đồng hứa chuyển nhượng cổ phần lòng vòng làm phương án giải quỹ nhằm cắt đứt dòng tiền, gây khó khăn trong điều ra khi bị phát hiện đồng thời còn tránh việc truy thu thuế của các cơ quan thuế; dùng thủ đoạn bán nợ đối với các khoản vay đã được tái cơ cấu nhiều lần để hạch toán ngoại bảng nhằm nới room tín dụng, tiếp tục rút tiền bằng hình thức cho vay đồng thời tránh sự kiểm tra đối với các khoản vay trên.
- Do đó, cần áp dụng điểm a, m khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
- + Đối với bị cáo Trương Huệ Vân và Dương Tấn Trước tham gia giúp sức với vai trò là người thực hiện trong khâu cung cấp pháp nhân đứng tên vay vốn trong cùng một đợt giải ngân. Mặc dù biết mục đích vay vốn là theo chỉ đạo của bị cáo Lan nhưng các bị cáo chỉ tham gia 1 số hồ sơ nhất định, trong thời gian ngắn, không tham gia vào các khâu giải quỹ, che dấu dòng tiền giải ngân và việc hợp thức nhằm qua mặt các cơ quan chức năng như đã nêu trên. Hội đồng xét xử đánh giá, hành vi của các bị cáo là đồng phạm có tổ chức với Trương Mỹ Lan nhưng hành vi mang tính đơn thuần
- Do đó không áp dụng tình tiết tăng nặng “Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội” đối với Trương Huệ Vân và Dương Tấn Trước như đề nghị của luật sư là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- + Đối với bị cáo Nguyễn Văn Hưng và Đỗ Thị Nhàn, bên cạnh hành vi điều chỉnh số liệu, không báo cáo trung thực và không thực hiện kiến nghị, đề xuất xử lý theo đúng chức năng, nhiệm vụ sau khi có kết quả thanh tra. Các bị cáo còn dùng thủ đoạn thu hẹp thời gian thanh tra, nhằm ẩn đi các số liệu về khoản vay mới thuộc nhóm 71 khách hàng dẫn đến kết quả thanh tra không phản ánh hết bản chất các khoản vay trên. Đây cũng là nguyên nhân khiến Ngân hàng Nhà nước không có cái nhìn toàn diện để kịp thời chỉ đạo, xử lý các hành vi vi phạm.
- Hành vị dùng chuyên môn nghiệp vụ để kết quả thanh tra không phản ánh được bản chất các khoản vay của các bị cáo thể hiện sự tinh vi
- Do đó cần áp dụng điểm m khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
- Đây cũng là lập luận để Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của các luật sư đề nghị loại trừ tình tiết trên cho các bị cáo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét