Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị như sau:
- + Buộc bị cáo Trương Mỹ Lan có trách nhiệm bồi thường toàn bộ hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo Lan gây ra là 677.286 tỷ đồng và số lãi phát sinh của hậu quả thiệt hại này theo quy định pháp luật. Các bị cáo Dương Tấn Trước và Nguyễn Thanh Tùng có trách nhiệm bổi hoàn số tiền mà các bị cáo đã sử dụng cho Doanh nghiệp và bản thân các bị cáo.
- + Đối với bị cáo Nguyễn Cao Trí: Đối với số tiền mà bị cáo và vợ đã nộp và 3.312.300 USD (bị cáo và vợ cũng có nguyện vọng sử dụng tài sản chung khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt của bị cáo Trương Mỹ Lan); bị cáo Trương Mỹ Lạn không yêu cầu bồi thường thêm và đồng ý chuyển toàn bộ số tiền này để khắc phục hậu quả chung của vụ án. Do vậy, đề nghị HĐXX tiếp tục tạm giữ tiền và duy trì kê biên các bất động sản của Nguyễn Cao Trí để bảo đảm thi hành án.
- + Đối với các quan hệ dân sự còn lại, đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Ngân hàng SCB đề nghị như sau:
- + Ngân hàng SCB xác nhận tổng số tiền thiệt hại thực tế (tính đến ngày 17/10/2022) là: 677.286 tỷ đồng và yêu cầu bố sung khoản tiền lãi/phí phát sinh tính từ ngày 18/10/2022 cho đến khi khắc phục được toàn bộ thiệt hại cho Ngân hàng SCB. + Đối với vật chứng là những tài sản bảo đảm (1.166 mã tài sản đảm bảo theo Kết luận điều tra và Cáo trạng) đề nghị Hội đồng xét xử giao cho Ngân hàng SCB toàn quyền quản lý, khai thác, sử dụng, xử lý... mà không phụ thuộc vào việc tài sản bảo đảm đó có đầy đủ pháp lý về tài sản hoặc pháp lý khi thế chấp/cầm cố hay không.
- + Đối với vật chứng là những tài sản đã được cơ quan điều tra kê biên, phong toả, thu giữ được nêu trong vụ án này, tất cả những nguồn tiền, tài sản,... do các cá nhân phạm tội như “Lạm dụng tín nhiệm chiểm đoạt tài sản”, “Nhận hối lộ” đều có nguồn gốc từ tài sản thuộc sở hữu của Ngân hàng SCB bị người khác chiếm đoạt mà có. Vì thế, Ngân hàng SCB kính đề nghị Quý Toà buộc trả lại, bồi thường cho Ngân hàng SCB tất cả những vật chứng nêu trên ngay trong quá trình xét xử theo đúng quy định pháp luật và giao cho SCB toàn quyền quản lý, khai thác, sử dụng, xử lý...đối với các vật chứng này.
- + Kết luận điều tra, trang 22 có nêu: “trong số 1.284 khoản vay của nhóm Trương Mỹ Lan - Tập đoàn VTP có 240 tài sản bảo đảm/430 khoản vay bị hoán đổi tài sản bảo đảm (trong đó có nhiều khoản vay hoán đổi tài sản nhiều lần (12 lần), giá trị tài sản khi đưa vào thế chấp được định giá trị trên sổ sách là 487.451.526.350.000 đồng, nhưng sau khi bị hoán đổi thành 278 tài sản bảo đảm đến nay giá trị trên sổ sách là 351.948.265.970.604 đồng” và “Trong số 240 tài sản bảo đảm bị hoán đổi thì có 67 tài sản đã bị xuất hăn ra khỏi hệ thống quản lý của Ngân hàng SCB, có nhiều tài sản có giả trị lớn, chuyển thành nhóm Vạn Thịnh Phát sở hữu, như: Tòa nhà Sherwood Resident tại 127 Pasteur; Tòa nhà 66 Phó Đức Chính, TP. Hồ Chí Minh; đã được kê biên trong vụ ản), cũng có nhiều tài sản đã chuyễn nhượng cho bên khác hoặc chuyển sở hữu nước ngoài không thể tiến hành kê biên, phong tỏa được”. SCB xác định 240 tài sản bị hoán đổi trong đó có 67 tài sản bị xuất khỏi hệ thống SCB theo Phụ lục đính kèm. Ngân hàng SCB cho rằng, việc những nhân sự cũ của Ngân hàng SCB, các bị cáo trong vụ án giúp sức tích cực cho bà Trương Mỹ Lan, đồng ý đối với việc cho hoán đổi tài sản bảo đảm, nhận chuyển giao tài sản của bên bảo đảm sau khi hoán đổi vào các thời điểm đó là trái pháp luật. Vì vậy, Ngân hàng SCB kính đề nghị Hội đồng xét xử có biện pháp quyết định thu hồi 240 tài sản hoán đổi và các tài sản khác được hoán đổi (nếu có cơ sở xác định) để giao lại cho Ngân hàng SCB quản lý, khai thác, sử dụng, xử lý... để thu hồi nợ, khắc phục thiệt hại.
- + Ngân hàng SCB kính đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục áp dụng các biện pháp truy tìm và kê biên, phong toả tài sản thuộc sở hữu của bà Trương Mỹ Lan, hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát, những cá nhân đồng phạm với bà Trương Mỹ Lan và các cá nhân, tổ chức khác có liên quan còn chưa được kê biên, phong toả... giao cho 244 SCB để khắc phục thiệt hại. trong trường hợp (Cơ quan điều tra kê biên thêm tài sản hoặc phát hiện tài sản mà cơ quan có thẩm quyền xác định tài sản đó có nguồn gốc từ tiền giải ngân các khoản vay sai phạm của bà Trương Mỹ Lan và các bị cáo hoặc ()bà Trương Mỹ Lan, hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát, những cá nhân đồng phạm với bà Trương Mỹ Lan và các cá nhân, tổ chức khác có đưa/giao nộp các tài sản khác (kể cả có liên quan hoặc không liên quan đến vụ án) để khắc phục thiệt hại, thì tất cả các tài sản này đều phải được xử lý để khắc phục thiệt hại cho SCB và SCB đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao các tài sản này cho SCB xử lý để khắc phục các thiệt hại.
- + Ngân hàng SCB kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc các công ty thẩm định giá có liên quan phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng SCB.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Bên vay, Chủ tài sản, các bị cáo có liên quan trong vụ án, những cá nhân hoặc pháp nhân có liên quan... có trách nhiệm liên đới khắc phục thiệt hại, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Ngân hàng SCB
- Ngân hàng SCB kính đề nghị Hội đồng xét xử tuyên giao cho SCB được quyền xử lý, thu hồi các tài sản kê biên, thu giữ bao gồm là các vật chứng đã được xác định trong hồ sơ vụ án theo các nội dung đã trình bày, đảm bảo khả năng thu hồi nợ, ổn định hoạt động của SCB.
- Việc xử lý các tài sản nêu trên giao cho Ngân hàng SCB chủ động phối hợp với khách hàng vay/chủ tài sản/bên bảo đảm để xử lý, trong trường hợp không thỏa thuận xử lý được thì yêu cầu Cơ quan Thi hành án hỗ trợ.
- Bị cáo Trương Mỹ Lan không có ý kiến gì về số tiền 1000 tỷ đồng xác định là bị cáo Nguyễn Cao Trí đã chiếm đoạt của bị cáo và thống nhất việc bị cáo Nguyễn Cao Trí hoàn trả lại toàn bộ số tiền này và bị cáo Lan đề nghị dùng số tiền 1000 tỷ đồng để khắc phục hậu quả liên quan đến bị cáo Trương Huệ Vân. Bên cạnh đó, bị cáo còn cho rằng trong số 1284 khoản vay bị cho là sai phạm còn dư nợ tại SCB được xác định trong vụ án thì nhiều khoản vay không phải là của bị cáo hay công ty Vạn Thịnh Phát nên không thể buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm toàn bộ.
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, vào ý kiến của bị cáo Trương Mỹ Lan, ý kiến của các bên liên quan cùng các tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ quá trình tranh tụng Hội đồng xét xử xác định như sau:
Trong vụ án này, về trách nhiệm hình sự, như đã nhận định Hội đồng xét xử xem xét áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên đối với bị cáo Trương Mỹ Lan và các bị cáo khác HĐXX chỉ xem xét các bị cáo phải chịu trách nhiệm với tổng số tiền chiếm đoạt, gây thất thoát thiệt hại là 498.090.544.281.939 đồng.
Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự HĐXX xét về thực tế bị cáo Trương Mỹ Lan và các đồng phạm đã chiếm đoạt, gây thất thoát, thiệt hại cho ngân hàng SCB tổng số tiền tương đương với tổng dư nợ của 1284 khoản vay (tính đến ngày 17/10/2022) được xác định là thực hiện trái quy định pháp luật trong vụ án nhằm rút tiền của ngân hàng SCB. Theo đó các bị cáo lẽ ra phải có nghĩa vụ bồi hoàn lại toàn bộ số tiền này cho ngân hàng SCB theo quy định. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét :
- + Bản chất toàn bộ số tiền bị chiếm đoạt, thất thoát đều được bị cáo Trương Mỹ Lan sử dụng hoặc chỉ đạo sử dụng cho mục đích của bị cáo, các bị cáo khác phần lớn chỉ là những người làm công ăn lương, hoặc vì tin tưởng nên nghe theo yêu cầu của bị cáo Trương Mỹ Lan thực hiện các hành vi sai phạm.
- + Các cá nhân, pháp nhân đứng tên hồ sơ vay phần lớn chỉ là những người được thuê hoặc các pháp nhân được thành lập chỉ để thực hiện ký hợp đông vay nhằm phục vụ mục đích rút tiền SCB của bị cáo Trương Mỹ Lan.
- + Đối với 1284 khoản vay nêu trên liên quan đến vụ án thì ngân hàng SCB khi thực hiện các hợp đồng tín dụng liên quan đến các khoản vay này đã thực hiện không đúng quy định pháp luật.
Theo đó HĐXX xét cần buộc bị cáo Trương Mỹ Lan phải có trách nhiệm bồi hoàn lại toàn bộ dư nợ của 1284 hợp đồng tín dụng được xác định trong vụ án tính đến ngày 17/10/2022 được xác định là bị cáo đã chiểm đoạt,gây thiệt hại cho SCB tổng cộng là 677.286.000.000.000 đồng. Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét các vấn đề như sau: Theo báo cáo của ngân hàng SCB gửi HĐXX thì đến hết ngày 01/04/2024 có một số khoản vay nằm trong 1284 khoản vay của vụ án đã được tất toán (được những người đứng tên vay tự nguyện đứng ra thỏa thuận thanh toán các khoản vay cho Trương Mỹ Lan và đồng phạm), Cụ thể:
- Từ ngày 18/10/2022 đến ngày 01/04/2024, Nhóm khách hàng Tân Tạo đã thanh toán cho SCB gốc, lãi của 36 khoản vay với số tiền 841,9 tỷ đồng (trong đỏ: 682,8 tỷ đồng nợ gốc và 159,1 tỷ đồng nợ lãi), chỉ tiết các khách hàng thanh toán nợ vay và tình trạng các tài sản đã được xuất trả cho khách hàng như sau:
- (1) Khách hàng Lê Hồng Bảo Anh (địa chi: 20/56/12 Đường số 8, Phường 11, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh): tính đến ngày 05/06/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 54,9 tỷ đồng (trong đó: 45,9 tỷ đồng nợ gốc và 9 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 26/07/2023. 246
- (2) Khách hàng Trần Văn Ba (địa chỉ: 636/40/13 Âu Cơ, Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh): tính đến ngày 27/07/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 48,8 tỷ đồng (trong đó: 44,2 tỷ đồng nợ gốc và 4,5 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 28/08/2023.
- (3) Khách hàng Lò Văn Dương (địa chỉ: 427/31 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Tổ 1, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh): tính đến ngày 31/07/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 59,4 tỷ đồng (trong đó: 48,9 tỷ đồng nợ gốc và 10,4 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 22/08/2023.
- (4) Khách hàng Ngô Thị Yến Nhi (địa chị: 09.14 Lô A C/c Bàu Cát I, Phường 10, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) : tính đến ngày 08/08/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 49,6 tỷ đồng (trong đó: 44,9 tỷ đồng nợ gốc và 4,7 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 30/08/2023.
- (5) Khách hàng Trần Trung Hiếu (địa chi 27/23 Cộng Hòa, Phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) : tính đến ngày 08/08/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 51,6 tỷ đồng (trong đó: 44,1 tỷ đồng nợ gốc và 7,5 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 30/08/2023.
- (6) Khách hàng Lê Thị Chín (địa chỉ: Khu phố 4, thị trấn Vĩnh Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang): tính đến ngày 08/08/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 48,6 tỷ đồng (trong đó: 44,1 tỷ đồng nợ gốc và 4,5 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 30/08/2023.
- (7) Khách hàng Phạm Hoàng Bảo Nhi (địa chỉ:97 Chu Văn An, Phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh): tính đến ngày 11/08/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 60,6 tỷ đồng (trong đó: 49,8 tỷ đồng nợ gốc và 10,7 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 30/08/2023.
- (8) Khách hàng Phan Thị Thanh Thảo (địa chỉ: 179/42/12 Đường Trục, Phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) : tính đến ngày 29/09/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 61,4 tỷ đồng (trong đó: 49,7 tỷ đồng nợ gốc và 11,6 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 31/10/2023.
- (9) Khách hàng Bùi Thành Bảo Phượng (địa chỉ: 259 Khu phố 1, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) : tính đến ngày 13/10/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 61,3 tỷ đồng (trong đó: 49,5 tỷ đồng nợ gốc và 11,6 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 31/10/2023.
- (10) Khách hàng Trần Hoàng Phương Thảo (địa chỉ: 27/23 Cộng Hòa, Phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chị Minh): tính đến ngày 17/10/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 56,9 tỷ đồng (trong đó: 45,9 tỷ đồng nợ gốc và 10,9 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 13/11/2023.
- (11) Khách hàng Nguyễn Thị Bảo Vân (địa chỉ: 269F/7 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Cư Trinh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh): tính đến ngày 14/12/2023 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 47,3 tỷ đồng (trong đó: 41,4 tỷ đồng nợ gốc và 5,9 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 15/01/2024.
- (12) Khách hàng Trần Đặng Thái Hiền (địa chỉ: 1/73 Cầu Xéo, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh) : tính đến ngày 15/01/2024 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 51,8 tỷ đồng (trong đó: 44,8 tỷ đồng nợ gốc và 7 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 20/02/2024.
- (13) Khách hàng Nguyễn Thị Mỹ Châu (địa chỉ: 23 đường 18, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) : tính đến ngày 13/03/2024 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 62,8 tỷ đồng (trong đó: 49,4 tỷ đồng nợ gốc và 13,4 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 28/03/2024.
- (14) Khách hàng Nguyễn Thị Ngọc Hà (địa chỉ: 259A Khu Phố 1, phường An Phủ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh): tính đến ngày 13/03/2024 đã thanh toán toàn bộ nợ vay với tổng số tiền 63,2 tỷ đồng (trong đó: 49,7 tỷ đồng nợ gốc và 13,4 tỷ đồng nợ lãi), tài sản đã xuất khỏi hệ thống SCB ngày 01/4/2024.
- Hiện tại Nhóm khách hàng Tân Tạo còn 04 khách hàng với 08 khoản vay tại SCB, còn dư nợ gốc 158,5 tỷ đồng (và lãi tính đến thời điểm thực tế Khách hàng thanh toán). Tại thời điểm tháng 12/2022, 04 khách hàng này đã có biên bản làm việc với SCB với nội dung cam kết sẽ trả đầy đủ nghĩa vụ nợ theo đúng kế hoạch trong thỏa thuận cho vay đã ký với SCB. Ngày 27/03/2024, 04 khách hàng trên đã có văn bản gửi SCB đề nghị được thanh toán hết nghĩa vụ nợ. Đối với 04 Khách hàng còn lại thuộc khách hàng Tân Tạo gồm: (1) Khách hàng Bùi Việt Tín (địa chỉ: Áp 4, xã Thạnh Lợi, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) : tính đến ngày 01/04/2024 đã thanh toán một phần nợ vay với tổng số tiền 10,2 tỷ đồng (trong đó: 4,9 tỷ đồng nợ gốc và 5,3 tỷ đồng nợ lãi), dư nợ còn lại tại ngày 01/04/2024 là 39,5 tỷ đồng và lãi tính đến thời điểm thực tế thanh toán, khách hàng đã có yêu cầu trả hết nợ vay tại SCB bằng văn bản đề nghị trả nợ trước hạn gửi đến SCB ngày 27/03/2024. (2) Khách hàng Huỳnh Ngọc Sơn (địa chỉ: 258 Khu phố 1, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) : tính đến ngày 01/04/2024 đã thanh toán một phần nợ vay với tổng số tiền 21,3 tỷ đồng (trong đó: 9,9 tỷ đồng nợ gốc và 11,4 tỷ đồng nợ lãi), dư nợ còn lại tại ngày 01/04/2024 là 39,8 tỷ đồng và lãi tính đến thời điểm thực tế thanh toán, khách hàng đã có yêu cầu trả hết nợ vay tại SCB bằng văn bản đề nghị trả nợ trước hạn gửi đến SCB ngày 27/03/2024. (3) Khách hàng Huỳnh Ngọc Lâm (địa chỉ: 258 Khu Phố 1, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh): tính đến ngày 01/04/2024 đã thanh toán một phần nợ vay với tổng số tiền 21,4 tỷ đồng (trong đó: 9,9 tỷ đồng 248 nợ gốc và 11,4 tỷ đồng nợ lãi), dư nợ còn lại tại ngày 01/04/2024 là 39,9 tỷ đồng và lãi tính đến thời điểm thực tế thanh toán, khách hàng đã có yêu cầu trả hết nợ vay tại SCB bằng văn bản đề nghị trả nợ trước hạn gửi đến SCB ngày 27/03/2024. (4) Khách hàng Nguyễn Thanh Hải (địa chị: 51 Đường 9, Khu phố 1, phường Bình Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chỉ Minh) : tính đến ngày 01/04/2024 đã thanh toán một phần nợ vay với tổng số tiền 21,1 tỷ đồng (trong đó: 9,8 ỷ đồng nợ gốc và 11,2 tỷ đồng nợ lãi), dư nợ còn lại tại ngày 01/04/2024 là 39,2 tỷ đồng và lãi tính đến thời điểm thực tế thanh toán, khách hàng đã có yêu cầu trả hết nợ vay tại SCB bằng văn bản đề nghị trả nợ trước hạn gửi đến SCB ngày 27/03/2024.
- Nhận thấy nhóm khách hàng Tân Tạo với ngân hàng SCB giải quyết các quan hệ tín dụng trên cơ sở tự nguyện của khách hàng, theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, SCB còn phát sinh thu nợ các khoản vay, các khoản bán nợ VAMC, bán nợ trả chậm. HĐXX đã ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự nêu trên về việc thực hiện thanh toán các khoản nợ tại SCB, HĐXX cũng xem xét đây là tình tiết một phần hậu quả của vụ án đã được khắc phục để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Đối với các khoản vay liên quan đến bị cáo Dương Tấn Trước, Cao Việt Dũng, công ty Tường Việt và các công ty liên quan: Hội đồng xét xử xác định các bị cáo, công ty Tường Việt và các công ty liên quan theo yêu cầu của bị cáo Trương Mỹ Lan đã ký các hợp đồng vay với ngân hàng SCB với sự giúp sức của các bị cáo là cán bộ ngân hàng SCB để tạo điều kiện cho Trương Mỹ Lan chiếm đoạt số tiền 4.752.935.046.662 đồng, gây thiệt hại số tiền 605.008.319.728 đồng cho ngân hàng SCB bằng pháp nhân của công ty Tường Việt, Việt Đức (là các công ty của bị cáo Cao Việt Dũng, Dương Tấn Trước), tuy nhiên trong số tiền vay từ ngân hàng SCB thì Dương Tấn Trước có sử dụng 1.368,5 tỷ đồng, Công ty Tường Việt sử dụng 138 tỷ đồng (công ty Tường Việt là của bị cáo Dương Tấn Trước và Cao Việt Dũng). HĐXX xét các bị cáo và công ty Tường Việt cũng vì tin tưởng nên đã thực hiện theo yêu cầu của bị cáo Lan nên chỉ xét thu hồi số tiền gốc mà các bị cáo, công ty Tường Việt đã nhận (đối với số tiền lãi liên quan thì thuộc trách nhiệm của bị cáo Lan), theo đó cần thu hồi số tiền 1.368,5 tỷ đồng từ bị cáo Dương Tấn Trước và 138 tỷ đồng từ công ty Tường Việt cùng bị cáo Trước và Dũng để hoàn trả cho ngân hàng SCB. Bị cáo Dương Tấn Trước và công ty Tường Việt ngay từ khi khởi tố vụ án đã trả ngân hàng SCB tổng số 813.236.731.744 đồng (đã được SCB ghi nhận), tại phiên tòa bị cáo và vợ tự nguyện dùng toàn bộ tài sản của mình để đảm bảo khắc phục số tiền còn lại mà bị cáo và công ty Tường Việt đã sử dụng, bị cáo Cao Việt Dũng đồng ý dùng toàn bộ tài sản của bản thân để khắc phục hậu quả tiếp trong trường hợp tài sản của vợ chồng bị cáo Trước không đủ để khắc phục hậu quả. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo, buộc bị cáo Dương Tấn Trước phải bồi hoàn tiếp cho ngân hàng SCB số tiền còn lại là 693.263.268.256 đồng, trong trường hợp tài sản của vợ chồng bị cáo Trước không đủ thì dùng toàn bộ các tài sản của bị cáo Cao Việt Dũng để đảm bảo tiếp nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trước trong vụ án này. Theo đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét khấu trừ cho bị cáo Trương Mỹ Lan số tiền này.
- Đối với các bị cáo Nguyễn Thanh Tùng và công ty dầu khí Đông Phương: đã giúp Trương Mỹ Lan lập 37 hồ sơ vay vốn với số tiền 1.720,88 tỷ đồng trong số tiền vay từ ngân hàng SCB thì Nguyễn Thanh Tùng và công ty dầu khí Đông Phương đã sử dụng 443,6 tỷ đồng. HĐXX xét bị cáo và công ty Đông Phương cũng vì tin tưởng nên đã thực hiện theo yêu cầu của bị cáo Lan nên chỉ xét thu hồi số tiền gốc mà các bị cáo, công ty đã nhận (đối với số tiền lãi liên quan HĐXX xác định thuộc trách nhiệm của bị cáo Lan), Theo đó HĐXX buộc bị cáo Nguyễn Thanh Tùng và công ty dầu khí Đông Phương phải bồi hoàn lại số tiền 443,6 tỷ đồng cho ngân hàng SCB, Hội đồng xét xử xem xét khấu trừ cho bị cáo Trương Mỹ Lan số tiền này.
- Hội đồng xét xử ghi nhận việc ông Nguyễn Văn Hảo tự nguyện hoàn trả cho bị cáo Trương Mỹ Lan số tiền 300 tỷ đồng liên quan đến thỏa thuận giữa ông Hảo và bị cáo Trương Mỹ Lan. bị cáo Lan đồng ý dùng toàn bộ số tiền này để khắc phục hậu quả khoản vay liên quan đến bị cáo Chu Lập Cơ. HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo, tuy nhiên về trách nhiệm dân sự HĐXX chi buộc bị cáo Trương Mỹ Lan phải chịu trách nhiệm toàn bộ nên theo đó cần chuyển số tiền 300 tỷ đồng cho ngân hàng SCB để khắc phục hậu quả của vụ án. Số tiền 300 tỷ đồng này sẽ được khấu trừ vào nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong vụ án.
- Bị cáo Nguyễn Cao Trí tại phiên tòa đồng ý bồi thường lại toàn bộ số tiền 1000 tỷ đồng đã chiếm đoạt cho bị cáo Trương Mỹ Lan, bị cáo Lan đồng ý việc bồi thường của bị cáo Trí và không có yêu cầu gì thêm, bị cáo đề nghị dùng toàn bộ số tiền này để khắc phục hậu quả khoản vay liên quan đến bị cáo Trương Huệ Vân. HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo, tuy nhiên về trách nhiệm dân sự HĐXX chỉ buộc bị cáo Trương Mỹ Lan phải chịu trách nhiệm toàn bộ nên theo đó cần buộc bị cáo Nguyễn Cao Trí nộp lại số tiền 1000 tỷ đồng để khắc phục hậu quả của vụ án. Số tiền 1000 tỷ đồng này sẽ được khấu trừ vào nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- HĐXX ghỉ nhận sự tự nguyện của bị cáo Dương Tấn Trước xin được nộp lại số tiền 2.204,565 tỷ đồng mà bị cáo đã nhận của bị cáo Trương Mỹ Lan (trong quan hệ dân sự khác), theo đó buộc bị cáo Dương Tấn Trước phải nộp lại số tiển 2.204,565 tỷ đồng, số tiền này sẽ được khấu trừ vào nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án. Bên cạnh đó, HĐXX xét một số cá nhận có nhận tiền từ bị cáo Dương Tấn Trước (nguồn gốc số tiền này là Dương Tấn Trước có được từ vụ án) nên cần buộc các cá nhận này phải có nghĩa vụ nộp lại, cụ thể: Ông Trần Nhật Tiến phải nộp lại 20 tỷ đồng và bà Nguyễn Thị Thúy Hiền phải nộp lại 36 tỷ đồng, số tiền này sẽ được khấu trừ nghĩa vụ của bị cáo Dương Tấn Trước trong vụ án này.
- Đối với số tiền mà các bị cáo tự nguyện nộp khắc phục hậu quả của vụ án, HĐXX xét mặc dù trong vụ án này ngoài bị cáo Trương Mỹ Lan, bị cáo Nguyễn Cao Trí, bị cáo Dương Tấn Trước, Cao Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tùng, thì đối với các bị cáo khác HĐXX không buộc phải chịu trách nhiệm dân sự, tuy nhiên các bị cáo đã nhìn nhận các sai phạm của mình, tự nguyện nộp tiền với mong muốn khắc phục một phần hậu quả của vụ án, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo (HĐXX cũng đã xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình).
- Theo đó cần chuyển toàn bộ số tiền mà các bị cáo đã tự nguyện nộp cho ngân hàng SCB để khắc phục hậu quả của vụ án. Số tiền này được khẩu trừ nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với số tiền 116.292.500.000 đồng (khoảng 4,75 triệu USD) đồng và 9,75 triệu USD, tương đương với số tiền 14,5 triệu USD mà bị cáo Trương Mỹ Lan đưa cho Tạ Hùng Quốc Việt (là Tổng Giám đốc Công ty CP Greenhill Village) để nhận chuyển nhượng Dự án Greenhill Quy Nhơn do Việt làm chủ đầu tư. Hiện ông Tạ Hùng Quốc Việt và gia đình tự nguyện nộp lại, bị cáo Lan cũng thừa nhận số tiền này là của bị cáo và đề nghị được dùng số tiền này để khắc phục hậu quả. Do đó, HĐXX xét cần ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và các bên liên quan, tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án
- Đối với số tiền Thu giữ 190.000 USD của Trần Văn Hùng HĐXX xác định đây là tiền của bị cáo Trương Mỹ Lan nên xét cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án
- Đối với số tiền 50 tỷ đồng của ông Nguyễn Phú Tiên, Giám đốc Công ty TNHH MTV An Nhựt Tân Long An: Trương Mỹ Lan giao cho ông Nguyễn Phú Tiên làm Giám đốc Công ty TNHH MTV An Nhựt Tân Long An. Số tiền 50 tỷ liên quan giao dịch giữa chuyển nhượng dự án giữa bị cáo Lan và công ty Sơn Long Thọ. ông Nguyễn Phú Tiên đã tự nguyện giao nộp số tiền 50 tỷ đồng vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan CSĐT Bộ Công an để xin khắc phục số tiền của Trương Mỹ Lan. HĐXX xác định đây là tiền của bị cáo Trương Mỹ Lan nên xét cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án
- Đối với Thu giữ 414.889.903.530 đồng của Cộng ty Cổ phần Sài Gòn Kim Cương: Trương Mỹ Lan đã giao cho các cá nhân nắm giữ 120.474.002 cổ phần, chiếm 66,93% vốn điều lệ Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim Cương. Công ty Cỗ phần Sài Gòn Kim Cương đã tự nguyện chuyển 414.889.903.530 đồng vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan CSĐT Bộ Công an để khắc phục số tiền Trương Mỹ Lan đã chiếm đoạt trong vụ án. HĐXX xác định đây là tiền của bị cáo Trương Mỹ Lan nên xét cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án
- Đối với 5,2 triệu USD mà bị cáo Trương Mỹ Lan thông qua Võ Tấn Hoàng Văn đưa hối lộ cho bị cáo Đỗ Thị Nhàn, HĐXX xét số tiền này mặc dù được Trương Mỹ Lan rút ra từ ngân hàng SCB nhưng xét đây là công cụ phương tiện để thực hiện tội phạm nên cần phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Theo đó cần buộc Đỗ Thị Nhàn nộp lại toàn bộ 5,2 triệu USD để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó HĐXX xét bị cáo Đỗ Thị Nhàn nhận số tiền hối lộ đặc biệt lớn nên cần phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền là 100.000.000 đồng.
- Đối với 1.166 mã tài sản bảo đảm liên quan 1.284 khoản vay trong vụ án, theo báo cáo của ngân hàng SCB thì tính đến 01/04/2024, SCB đã xuất trả 28 mã tài sản đảm bảo của 14 khách liên quan đến khách hàng được đảm bảo bằng quyền tài sản phát sinh từ các văn bản chuyển nhượng Hợp đồng góp vốn xây dựng Khu Nhà ở An Phú - Quận 2, TP.HCM, hiện còn 1.138 mã tài sản bảo đảm. HĐXX xét đối với 1121 mã tài sản còn lại (Riêng một số mã tài sản gồm: 15 mã tài sản liên quan công ty Âu Lạc, công ty Hạ Long, 01 mã tài sản liên quan 13 Quyền sử dụng đất tại xã Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An liên quan công ty Hồng Phát,; 01 mã tài sản là Quyền Tài sản phát sinh từ giá trị khai thác Dự án Khu Thương mại và Nhà ở cao tầng Golden Gate liên quan công ty Thành Hiếu (sẽ được nhận định sau) đang được thế chấp cho Ngân hàng SCB để đảm bảo cho 1.243 khoản vay còn nghĩa vụ nợ trong vụ án như đã xác định, theo đó cần giao cho Ngân hàng SCB tiếp tục quản lý, xử lý các mã tài sản này để đảm bảo thu hồi nợ tương ứng của 1.243 khoản vay, hợp đồng tín dụng theo hợp đồng thế chấp đã ký theo đúng quy định pháp luật (các tài sản đảm bảo cho khoản vay, khoản tín dụng tương ứng theo hợp đồng thể chấp đã ký kết; đối với nghĩa vụ trả nợ đối với 1243 khoản vay, hợp đồng tín dụng như đã được HĐXX xác định là thuộc trách nhiệm của bị cáo Trương Mỹ Lan phải có nghĩa vụ bồi hoàn cho ngân hàng SCB với tổng dư nợ tính đến ngày 17/10/2022 như đã nhận định ở trên).
- Bên cạnh đó Hội đồng xét xử xét trong 1121 mã tài sản đang thế chấp tại ngân hàng SCB có một số mã tài sản thuộc sở hữu của bị cáo Trương Mỹ Lan nhưng được giao cho một số cá nhân tổ chức đứng tên hộ. Để đảm bảo thu hồi triệt để tài sản cho nhà nước HĐXX đề nghị ngân hàng SCB 252 trong trường hợp nếu xử lý tài sản (trong 1121 mã tài sản) theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ thì sau khi xử lý xong các khoản nợ được đảm bảo bằng các tài sản tương ứng thì phần giá trị tài sản còn lại (nếu có) cần phối hợp với C03 để xác định tài sản nào thuộc sở hữu của bị cáo Trương Mỹ Lan thì dùng toàn bộ phần còn lại đó để đảm bảo nghiã vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong vụ án.
- Riêng đối với 13 Quyền sử dụng đất liên quan Công ty TNHH XD - TM Hồng Phát (là một trong 1138 mã tài sản) HĐXX xét: Ngày 22/4/2003, Công ty TNHH XD - TM Hồng Phát được UBND tỉnh Long An chấp thuận cho đầu tư khu dân cư cao cấp và trường đua ngựa với diện tích khoảng 324,3ha tại xã Tân Mỹ và Đức Lập Thượng, huyện Đức Hòa.Để thực hiện dự án thì công ty Hồng Phát có ký thỏa thuận khung hợp tác với Công ty China Polycy Limited (là pháp nhân nước ngoài-gọi tắt là CPL) theo thỏa thuận khung thì công ty CPL và công ty Hồng Phát liên doanh cùng thực hiện dự án, công ty CPL chiểm 70% còn Hồng Phát chiếm 30%. Thực hiện theo thỏa thuận khung thì công ty CPL đã đã chuyển 15,622 triệu USD cho phía công ty Hồng Phát (15 triệu USD là khoản tiền ứng trước cho giai đoạn 1 và một phần chi phí dự án giai đoạn 2 và 622.425 USD là khoản tiền chỉ cho các chi phí khác liên quan đến việc thực hiện dự án) nhưng sau đó phía Hồng Phát không thành lập công ty Liên doanh như thỏa thuận giữa 02 bên. Năm 2013 công ty CPL đã khởi kiện công ty Hồng Phát tại trung tâm trọng tài VIAC và được phán quyết “ công ty Hồng Phát phải thực hiện thỏa thuận khung, thành lập công ty liên doanh..."
- Ngày 18/12/2018, Cục thi hành án dân sự tỉnh Long An có Quyết định số 07/QĐ-THADS tạm dừng việc đặng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với 13 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu trên do Công ty Cổ phần Địa ốc Hồng Phát có tranh chấp với Công ty China Polycy Limited. Năm 2019 Công ty cổ phần địa ốc Hồng Phát có vay của Trương Mỹ Lan 2.355.104.862.000 đồng (nguồn tiền mà Trương Mỹ Lan cho vay là từ huy động trái phiếu), theo yêu cầu của bị cáo Trương Mỹ Lan thì phía công ty Hồng Phát dùng tài sản là 13 QSD Đất tại Đức Hòa Long An để thế chấp cho các công ty của Trương Mỹ Lan vay tiền tại ngân hàng SCB. Theo đó: Đối với 13 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đứng tên Công ty Cổ phần địa ốc Hồng Phát mặc dù có thế chấp nhưng không đúng quy định pháp luật (không đăng ký theo đúng quy định mà chỉ ký hợp đồng thế chấp giữa 02 bên) hiện liên quan các giấy chứng nhận này đã có Quyết định Trọng tài và Quyết định số 117/2013/KDTM-ST ngày 25/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, hiện Cục THADS tỉnh Long An cũng đã ra quyết định thi hành án để thi hành. Do đó, cần yêu cầu Công ty Hồng Phát phải tiếp tục thi hành phán quyết của Trọng tài liên quan Công ty China Polycty Limited theo quyết định THA số 01/QĐ-CTHA ngày 01/10/2014 của Cục THADS tỉnh Long An theo đúng quy định. Tuy nhiên do công ty Hồng Phát còn nợ bị cáo Trương Mỹ Lan 2.355.104.862.000 đồng, và 13 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang được dùng để đảm bảo các khoản vay thuộc nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan như đã được xác định (bản chính giấy chứng nhận do ngân hàng SCB giữ), do đó để đảm bảo quyền lợi của các bên HĐXX xét cần buộc Công ty Cổ phần địa ốc Hồng Phát phải nộp lại số tiền 2.355.104.862.000 đồng, số tiền này sẽ được dùng để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án. Ngân hàng SCB phải hoàn trả 13 Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nêu trên cho công ty Cổ phần địa ốc Hồng Phát để công ty thực hiện thi hành phán quyết của Trọng tài liên quan Công ty China Polycty Limited theo quyết định THA số 01/QĐ-CTHA ngày 01/10/2014 của Cục THADS tỉnh Long An.
- Đối với 658 bất động sản do các Công ty thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát dứng tên sở hữu hoặc giao cho các cá nhân đứng tên hộ. HĐXX xét về bản chất toàn bộ các tài sản này là của bị cáo Trương Mỹ Lan nên xét cần tiếp tục kê biên, xử lý để thi hành án cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với 76 bất động sản tại huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai đã tiến hành kê biên Hội đồng xét xử xét các bất động sản này có dấu hiệu liên quan đến hành vi sai phạm của một số đối tượng đứng tên hộ tài sản cho bị cáo Trương Mỹ Lan cần phải tách ra giải quyết trong một vụ án khác nên xét cần tiếp tục kê biên, giao cho C03-Bộ công an để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
- Đối với 475 bất động sản liên quan đến Công ty CP Quốc Cường Giả Lai (gồm 301 Giấy chúng nhận QSDĐ, 21 Hợp đồng công chứng, 147 Thỏa thuận bồi thường các thửa đất tại xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh thuộc Dự án Khu dân cư Bắc Phước Kiển và 06 Giấy chứng nhận QSDĐ tải xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TP HCM;). HĐXX xét Trương Mỹ Lan sử dụng Công ty Cổ phần đầu tưtu Sunny Island (công ty Sunny) ký Hợp đồng hứa mua, hứa bán Dự án Khu dân cư Bắc Phước Kiển, xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, ТР. Hồ Chí Minh với công ty CP Quốc Cường Gia Lai với giá là 14.800 tỷ đồng, đã thanh toán cho phía cty Quốc Cường Gia Lai số tiền 2.882,8 tỷ đồng để công ty Quốc Cường tiếp tục bồi thường giải phóng mặt bằng và nhận từ Công ty CР Quốc Cường Gia Lai các giấy tờ tài liệu liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng Dự án nêu trên. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Như Loan còn giao cho Trương Mỹ Lan giữ 06 Giấy chứng nhận QSDĐ tại xã phong phú huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh với mục đích vay thêm tiền. Công ty Quốc Cường Gia Lai khởi kiện Công ty Sunny ra Trọng tài thương mại về việc không thanh toán tiền đúng thời hạn ghi trong hợp đồng hứa mua hứa bán ngày 29/3/2017, theo đó Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam ban hành Phán quyết số 63/20HCM ngày 10/5/2023 tuyên bố rằng Công ty Quốc Cường Gia Lai chẩm dứt hợp đồng hứa mua, hứa bán nêu trên là đúng quy định theo hợp đồng và quy định của pháp luật, không tuyên Công ty Quốc Cường Gia Lai thanh toán tiền cho Công ty Sunny.
- Tuy nhiên phán quyết này của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định về việc hủy phán quyết trọng tài (theo quyết định số 2542/2023/ QĐ-PQTT ngày 5/12/2023). Để đảm bảo thu hồi tài sản cho nhà nước nhưng cũng để đảm bảo quyền lợi của bên liên quan cần tiếp tục kê biên để đảm bảo việc công ty Quốc Cường Gia Lai hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận từ bị cáo Trương Mỹ Lan là 2.882,8 tỷ đồng, số tiền này để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án, nếu hoàn trả đủ thì sẽ được nhận lại toàn bộ các bất động sản cùng giấy tờ liên quan nêu trên
- Đối với 16 bất động sản tại xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh (diện tích khoảng 1ha thuộc Dự án Khu dân cư Bắc Phước Kiển) Hội đồng xét xử xét các bất động sản này là do Trần Duy Bình; Trần Tuấn Anh, Nhan Nhụt Phương đứng tên sở hữu, các đối tượng khai góp tiền cùng Nguyễn Ngọc Dương (đã chết) để mua các thửa đất trên tuy nhiên bị cáo Trương Mỹ Lan khai đã chi 500 tỷ đồng để Nguyễn Ngọc Dương mua khu đất khoảng 1 ha thuộc Dự án Khu dân cư Bắc Phước Kiển nêu trên. Hội đồng xét xử xét hiện Nguyễn Ngọc Dương đã chết, các tài liệu hồ sơ trong vụ án chưa đủ căn cứ để xác định các bất động sản này là của bị cáo Trương Mỹ Lan, để có căn cứ giải quyết theo đúng quy định cần tiếp tục kê biên đối với các bất động sản này, giao C03 tiếp tục điều tra làm rõ để giải quyết trong giai đoạn tiếp theo của vụ án.
- Đối với 02 bất động sản tại tỉnh Long An (Giấy chứng nhận QSDĐ số BĐ 373911 và số BĐ 373403) do Công ty Phú An đứng tên sở hữu, Hội đồng xét xử xét Công ty Phú An (do bà Phan Thị Phương Thảo làm đại diện) Theo hồ sơ vụ án thể hiện bà Phan Thị Phương Thảo, công ty Phú An có giao dịch hợp tác với bị cáo Trương Mỹ Lan và hiện công ty Phú An, bà Phan Thị Phương Thảo còn nợ bị cáo Trương Mỹ Lan số tiền 145,26 tỷ đồng và 1.000 lượng vàng SJC. Để đảm bảo thu hồi triệt để tài sản cho nhà nước HĐXX xét cần buộc công ty Phú An và bà Phan Thị Phương Thảo nộp lại số tiền 145,26 tỷ đồng và 1.000 lượng vàng SJC để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án, tiếp tục kê biên các bất động sản này để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của công ty Phú An, bà Phan Thị Phương Thảo.
- Đối với Căn hộ tại tầng 1+ tầng 2, 78 Nguyễn Huệ, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh (theo Giấy CN QSDĐ số CL 460143) do vợ chồng ông Lập, bà Thu ký hợp đồng chuyển nhượng nhà quyền sử dụng đất này với Chu Duyệt Phấn (con gải Trương Mỹ Lan) với giá 150 tỷ đồng, đã thanh toán 140 tỷ đồng còn 10 tỷ đồng chưa thanh toán; Hội đồng xét xử xét về bản chất số tiền chuyển thanh toán cho căn hộ này là của bị cáo Trương Mỹ Lan và căn hộ này cũng đã thanh toán gần như toàn bộ giá trị theo thỏa thuận giữa các bên nên HĐXX xét cần tiếp tục kê biên xử lý tài sản này để thi hành nghĩa vụ cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án. Đối với quan hệ tranh chấp liên quan đến việc chuyển nhượng nhà quyền sử dụng đất này giữa Chu Duyệt Phấn và ông Lập, bà Thu là một quan hệ pháp luật khác, sẽ được giải quyết bằng 01 vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
- Đối với nhà, đất 75B Trần Tế Xương, phường 7, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh Hội đồng xét xử nhà và quyền sử dụng đất đối với tài sản này là do Mai Ngọc Ngà đứng tên, bà Mai Ngọc Ngà đã thế chấp tài sản này cho Vũ Thị Hồng Hạnh (vợ Trương Lập Hưng là cháu Trương Mỹ Lan) để vay số tiền 19,3 tỷ đồng, số tiền này được lấy từ tập đoàn Vạn Thịnh Phát hay thực chất là từ bị cáo Trương Mỹ Lan. Theo đó để đảm bảo thu hồi tài sản cho nhà nước HĐXX xét cần buộc bà Mai Ngọc Ngà nộp lại số tiền 19,3 tỷ đồng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án, tiếp tục kê biên bất động sản này đề đảm bảo nghĩa vụ của thi hành án của bà Mai Ngọc Ngà.
- Đối với nhà và quyền sử dụng đất (là biệt thự cổ) tại 110 – 112 Võ Văn Tần, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh đang thuộc sở hữu của Công ty cổ phần Minerva (chưa thu giữ được sổ đỏ), hiện Chu Duyệt Phấn (con gái Trương Mỹ Lan) có đơn đề nghị xem xét hủy bỏ biện pháp kê biên và cho rằng tiền mua do các cổ đông của Công ty cổ phần Minerva góp. HĐXX xét các cổ đông của Công ty cổ phần Minerva thực chất đều là con cháu của Trương Mỹ Lan (Cổ đông của Công ty Minerva gồm: Công ty cổ phần Tập đoàn Horizon (do Chu Duyệt Phấn đại diện) chiếm 48% Vốn điều lệ; Công ty TNHH Luminance (do Trương Lập Hưng là cháu Trương Mỹ Lan đại diện) chiểm 26% Vốn điều lệ; Công ty TNHH Radiance (do Vũ Thị Hồng Hạnh vợ của Trương Lập Hưng đại diện) chiếm 26% Vốn điều lệ); theo đó HĐXX xác định đây thực chất là tài sản của bị cáo Trương Mỹ Lan nên cần tiếp tục kê biên để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Lan trong toàn bộ vụ án (lưu ý tài sản này Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh chỉ cho trùng tu, không được thay đổi hiện trạng)
- Đối với bất động sản là Tòa nhà số 19-21-23-25 Nguyễn Huệ, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh do Công ty cổ phần tập đoàn Horizon (thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát) đứng tên sở hữu. Hiện SCB đã đặt cọc cho Công ty 336,168 tỷ đồng (tiền thuê 3 năm) để thuê Tòa nhà làm trụ sở làm việc trong thời hạn 10 năm kể từ tháng 7/2019. HĐXX xét đây là tài sản của bị cáo Trương Mỹ Lan nên cần tiếp tục kê biên để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Lan trong vụ án.
- Về quan hệ liên quan đến hợp đồng thuê giữa ngân hàng SCB và công ty cổ phần tập đoàn Horizon là một quan hệ pháp luật khác đề nghị ngân hàng SCB và công ty cổ phần tập đoàn Horizon giải quyết theo quy định. Trong trường hợp sau khi giải quyết xong quan hệ liên quan đến hợp đồng thuê giữa các bên thì phần tiền đặt cọc còn lại (nếu có) sẽ được thu hồi để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với bất động sản tại phường Tân Phú, quận 7, TP Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận QSDĐ số BA 489719) do Công ty TNHH MTV Phát triển và kinh doanh nhà đứng tên sở hữu, Hội đồng xét xử xét bị cáo Trương Mỹ Lan đã sử dụng Công ty TNHH Sản xuất TM Việt Anh tạm ứng cho Công ty TNHH MTV Phát triển và kinh doanh nhà số tiền 400 tỷ đồng và nhận bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ này. Theo đó để đảm bảo thu hồi tài sản cho nhà nước HĐXX xét cần tiếp tục kê biên tài sản này để đảm bảo việc việc thu hồi số tiền 400 tỷ đồng từ Công ty TNHH MTV Phát triển và kinh doanh nhà để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bối hoàn cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với bất động sản (thửa đất số 1 - 755, tờ bản đồ số 10 Sài Gòn Khánh Hội, tại địa chỉ: 145 – 147 Nguyễn Tất Thành, phường 13, quận 4, TP. Hồ Chí Minh) tài sản đứng tên Công ty cổ phần logistics vinalink. Năm 1999, UNBD thành phố Hồ Chí Minh có giao lô đất trên cho Công ty cổ phần giao nhận vận tải và thương mại (tách từ công ty giao nhận kho vận ngoại thương TP HCM là công ty 100% vốn nhà nước) với 10% vốn nhà nước, để làm văn phòng và kho với thời gian thuê từ ngày 01/9/1999 đến 31/7/2029. Đến năm 2014, Nhà nước thoái vốn, Công ty đổi tên thành Công ty cổ phần logistics vinalink. Tháng 10,11/2014 Công ty Đường Khánh Hội (thuộc tập đoàn Vạn Thịnh Phát) có thỏa thuận với Công ty cổ phần logistics vinalink về việc thuê lại mặt bằng để trực tiếp quản lý, khai thác tài sản trên đất trong thời gian chờ được chấp thuận của UBNDTP Hồ Chí Minh giao đất để làm dự án, thay đổi mục đích sử dụng đất. Theo đó hai bên đã ký hợp đồng kinh doanh và hợp đồng nguyên tắc về đền bù di dời phục vụ dự án, Công ty Đường Khánh Hội đã chi: 36 tỷ tiền hợp đồng thuê đất đến hết thời hạn Nhà nước cho thuê đất, và chuyển 32,8 tỷ (tạm ứng 80% tiền điền bù di dời tài sản), 8,2 tỷ còn lại ( 20% còn lại được ngân hàng SCB bảo lãnh). Khi nào UBND TP có quyết định giao đất cho công ty Đường Khánh Hội thì Đường Khánh Hội có trách nhiệm trả nốt 20% số tiền trên (8,2 tỷ). Nếu UBND TP giao đất cho đơn vị khác, đơn vị được giao đất sẽ bồi thường cho Công ty cổ phần logistics vinalink, Công ty sẽ chuyển trả 80% tiền bồi thường cho công ty Đường Khánh Hội. HĐXX xét công ty Đường Khánh Hội thực chất là của bị cáo Trương Mỹ Lan, theo đó để đảm bảo thu hồi tài sản cho nhà nước HĐXX xét cần tiếp tục kê biên tài sản này để đảm bảo theo nguyên tấc Nếu UBND TP giao đất cho Công ty cổ phần logistics vinalink, công ty này phải hoàn trả lại số tiền 68,8 tỷ đồng và số tiền này sẽ được dùng để thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong trong toàn bộ vụ án.
- Đối với 18.000.450 cổ phần chiếm 70,59% vốn điều lệ của Công ty cổ phần T&H Hạ Long, 03 bất động sản thuộc sở hữu của Công ty cố phần T&H Hạ Long và 08 bất động sản thuộc sở hữu của Công ty Âu Lạc đều tại phường Tuần Châu, TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Về quan hệ giữa bị cáo Trương Mỹ Lan và phía công ty Âu Lạc, công ty T&H Hạ Long được xác định như sau: Ông Đào Anh Tuấn, Công ty Âu Lạc, Công ty T&H Hạ Long nhận được từ phía bà Trương Mỹ Lan là: 6.095 tỷ đồng, bao gồm: (1) Khoản tiền 3.179 tỷ đồng mà ông Đào Anh Tuấn nhận được từ Thỏa thuận khung ngày 20/12/2021, trong đó có 1.411 tỷ đồng, tương ứng với 70,59% cổ phần của Công ty T&H Hạ Long đã chuyển nhượng cho phía Trương Mỹ Lan. Còn lại 1.768 tỷ đồng (3.179 tỷ đồng - 1.411 tỷ đồng) các bên đang tiến hành bàn bạc để đối trừ vào các khoản Bên bà Trương Mỹ Lan có nghĩa vụ 257 thanh toán theo Thỏa thuận khung (2) Khoản tiền 2.916 tỷ đồng, Công ty Âu Lạc, Công ty T&H Hạ Long nhận được từ 05 công ty (Công ty Sunny World, Công ty Vạn Phát, Công ty Hưng Phúc, Công ty Vĩnh Thịnh Phát và Công ty Hải Hà), theo 05 Thỏa thuận khung hợp tác và chuyển giao tài sản, Thỏa thuận khung hợp tác và đặt cọc chuyển nhượng một phần dự án (243 căn nhà liền kề, thuộc Dự án Khu biệt thụ Morning Star và Khu biệt thự Hoàng Long tương ứng với 9 sổ đất, đã thế chấp để đảm bảo khoản vay của các công ty nhận chuyền giao tài sản nêu trên tại SCB) với tổng giá trị là 5.068 tỷ đồng. Như vậy để sở hữu 243 căn nhà liền kể, thuộc Dự án Khu biệt thự Morning Star và Khu biệt thự Hoàng Long (đang được thế chấp tại SCB với tổng dư nợ gốc được đảm bảo là 1.676,8 tỷ đồng) thì phía bà Lan còn phải thanh toán cho Công ty Âu Lạc và Công ty Hạ Long số tiền 2.152 tỷ đồng (5.068 tỷ đồng - 2.916 tỷ đồng) Tổng cộng, Công ty Âu Lạc và Công ty T&H Hạ Long đã sử dụng 32 GCN QSDĐ để đảm bảo dư nợ cho 32 khoản vay của 29 Công ty (hiện 01 khoản vay của 01 công ty đã tất toán); Hiện SCB đang giữ 31/32 Giấy chứng nhận QSDÐ nêu trên để đảm bảo cho dư nợ của các công ty thuộc nhóm Trương Mỹ Lan nên các cơ quan tố tụng không tiến hành kê biên mà tiếp tục duy trì việc ngăn chặn giao dịch chuyển nhượng đối với 32 Giấy chứng nhận QSDĐ nêu trên. Ranh giới hợp tác giữa Công ty Âu Lạc, Công ty T&H Hạ Long và Công ty Sunny World chỉ bao gồm 243 căn nhà liền kề trên diện tích 38.847,6 m², thuộc một phần của Dự án Khu biệt thự Morning Star và Khu biệt thự Hoàng Long, không bao gồm: 66 lô biệt thự, diện tích 32.850,1 m², công trình dịch vụ DV-01, diện tích: 3.067 m² và Lô KS1, diện tích 4.404,4 m². Tại phiên tòa, đại diện công ty T&H Hạ Long và công ty Âu Lạc đề nghị HĐXX xem xét dành quyền cho công ty và các bên liên quan được khởi kiện trong một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự để xác định trách nhiệm nghĩa vụ của các bên. HĐXX xét trong vụ án này bị cáo Trương Mỹ Lan có nghĩa vụ rất lớn phải thực hiện, theo hồ sơ vụ án thể hiện thực tế bị cáo Trương Mỹ Lan có chuyển cho phía công ty T&H Hạ Long và công ty Âu Lạc số tiền 6.095.475.000.000 đồng và tiền này là từ ngân hàng SCB, vì vậy cần phải thu hồi số tiền này về cho ngân hàng SCB để đảm bảo thu hồi khắc phục hậu quả cho vụ án. Do đó HĐXX xét cần buộc Công ty T&H Hạ Long và Công ty Âu Lạc nộp lại số tiền 6.095.475.000.000 đồng, số tiền này sẽ được dùng để thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong trong toàn bộ vụ án, tiếp tục kê biên tài sản để đảm bảo việc thu hồi số tiền 6.095.475.000.000 đồng từ Công ty T&H Hạ Long và Công ty Âu Lạc. Đối với quan hệ thế chấp, bảo đảm liên quan các QSDĐ của Công ty Âu Lạc và Công ty T&H Hạ Long dùng để đảm bảo dư nợ cho các khoản vay tại ngân hàng SCB, cơ quan cảnh sát điều tra đang ngăn chặn giao dịch chuyển nhượng. HĐXX xét cần tách ra để Công ty T&H Hạ Long và công ty Âu Lạc giải quyết với ngân hàng SCB và các bên liên quan (nếu có) trong một vụ án khác khi các bên có yêu câu.
- Đối với 116.190.200 cổ phần tại Cổ phần Công ty cổ phần địa ốc Đông Á (chiếm 96,84%), Hội đồng xét xử xác định bị cáo Trương Mỹ Lan và Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đã chi số tiền 1.646.027.900.000 đồng do để nắm giữ số lượng cổ phần nêu trên (số cổ phần này gắn với quyền phát triển dự án khu nhà ở Đông Á tại phường Phú Thuận, Quận 7, TP Hồ Chí Minh do Cổ phần Công ty cổ phần địa ốc Đông Á làm chủ đầu tư). HĐXX xét đây thực chất là tài sản của bị cáo Trương Mỹ Lan nên cần tiếp tục kê biên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong trong toàn bộ vụ án.
- Đối với 69,795% cổ phần tại Satsco Miền Nam (tương ứng với 3.036.100 cổ phần), 49% cổ phần tại Satsco Miền Bắc (tương ứng với 291.550 cổ phần) và 49% cổ phần tại Satsco Phú Quốc (tương ứng với 245.000 cổ phần), Hội đồng xét xử xét bị cáo Trương Mỹ Lan và Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đã chi số tiền 79.727.736.424 đồng do để nắm giữ số lượng cổ phần nêu trên (Trương Mỹ Lan và Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đã thông qua Công ty Cổ phần Spring Horizon và Công ty Cổ phần Skynet sở hữu số lượng cổ phần nêu trên với tổng giá trị nhận chuyển nhượng là 93.387.391.300 đồng, đã thanh toán 79.727.736.424 đồng, hiện còn nợ số tiền 13.659.654.876 đồng). HĐXX xét đây thực chất là tài sản của bị cáo Trương Mỹ Lan nên cần tiếp tục kê biên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với bất động sản (thửa đất số 241, tờ bản đồ số 3, địa chỉ tại xã Phước Vĩnh Đông, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An): Liên quan đến tài sản này HĐXX xác định như sau: Công ty Sơn Long Thọ có thỏa thuận với phía bị cáo Trương Mỹ Lan, và tập đoạn Vạn Thịnh Phát về việc chuyển nhượng 07 Dự án tại tỉnh Long An do Trương Mỹ Lan đầu tư theo thỏa thuận là với giá 3.400 tỷ đồng (Công ty Sơn Long Thọ đã thanh toán tổng cộng 625 tỷ đồng, trong đó thanh toán 300 tỷ đồng/1.700 tỷ đồng cho dự ản KCN An Nhựt Tân và thanh toán 325 tỷ đồng/1.700 tỷ đồng cho 06 dự án còn lại với hình thức nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần từ các cá nhân được giao đứng tên cổ phần tại Công ty đứng tên chủ đầu tư các dự án trên). Do bị cáo Trương Mỹ Lan đã tự ý đem dự án KCN An Nhựt Tân thế chấp nên hiện nay Cộng ty Sơn Long Thọ đề nghị chỉ tiếp tục thực hiện 05 dự án còn lại và nộp số tiền 1.275 tỷ đồng chưa thanh toán đối với 05 dự án để khắc phục hậu quả của vụ án (05 dự án công ty đề nghị thực hiện bao gồm: (1)Dự án khu dân cư, tái định cư xã Tân Lập, huyện Cần Giuộc,quy mô diện tích 22,27ha do công ty cổ phần phát triển bất động sản Long An đứng tên chủ đầu tư, (2)Dự án khu dân cư chợ mới thị trấn Cần Giuộc,quy mô điện tích 16,17ha do công ty cổ phần đầu tư phát triển Phủ Châu đứng tên chủ đầu tư, (3)Dự án khu tái định cư tại xã Long Hậu, Cần Giuộc,quy mô diện tích 54,66 ha do công ty cổ phần kinh doanh bắt động sản Phố Đông đứng tên chủ đầu tư,,(4) Dự án nghĩa trang tại xã Tân Tập, Cần Giuộc,quy mô diện tích 29,73 ha do công ty cổ phần đầu tư Vĩnh Bảo đứng 259 tên chủ đầu tư, (5)Dự án xưởng đóng tàu Caric,quy mô diện tích 19,72ha do công ty TNHH Lương Cát Carịc đứng tên chủ đầu tư). Trong số 05 dự án do Công ty Sơn Long Thọ đề xuất phương án tiếp tục thực hiện, chỉ có Dự án xưởng đóng tàu Lương Cát Caric (Công ty Sơn Long Thọ đã thanh toán đủ 55 tỷ đồng trong việc nhận chuyển nhượng cổ phần) đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ (đã bị kê biên và thu giữ bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ ), còn lại 04 dự án đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng, chưa được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (không thể thực hiện kê biên dự án và tài sản). Hiện công ty Sơn Long Thọ tự nguyện nộp để Hội đồng xét xử phong tỏa 315 tỷ đồng tại ngân hàng Sacombank và cam kết sẽ chuyển 960 tỷ đồng vào tài khoản của cục thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ nếu để nghị của công ty được chấp thuận. Tại phiên tòa bị cáo Trương Mỹ Lan cũng đồng ý với phương án mà công ty Sơn Long Thọ đưa ra. Hội đồng xét xử xét các dự án nêu trên pháp lý chưa hoàn chỉnh, hiện có dự án đã hết thời hạn nhưng do liên quan đến vụ án nên bị ngăn chặn chưa thực hiện tiếp được, những người dân có đất trong khu dự án cũng đang bức xúc, khiếu kiện do dự án kéo dài chưa nhận được bồi thường, nếu kéo dài sẽ dẫn đến dự án sẽ bị bị chính quyền địa phương thu hồi, dự án không thực hiện được sẽ không thể thu hồi tiền, tài sản để đảm bảo khắc phục được cũng như ảnh hưởng đến quyền lợi của doanh nghiệp liên quan, do đó để đảm bảo thu hồi triệt để tài sản cho nhà nước, khắc phục hậu quả cho vụ án, đảm bảo quyền lợi của người dân, doanh nghiệp, HĐXX xét cần cho công ty Sơn Long Thọ được nộp tiếp tiền theo thỏa thuận giữa 02 bên là 1275 tỷ đồng, số tiền này sẽ được dùng để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án, song song đó, khi công ty Sơn Long Thọ nộp đủ số tiền 1275 tỷ đồng vào tài khoản của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án thì sẽ được được giải tỏa kê biên, chấm dứt ngăn chặn các dự án nêu trên để công ty Sơn Long Thọ tiếp tục thực hiện các dự án trên theo quy định. Đối với yêu cầu của công ty cổ phần Sơn Long Thọ đối với ngân hàng SCB liên quan đến dự án An Nhựt Tân Long An, HĐXX xét cần tách ra để các giải quyết trong một vụ án khác khi các bên có yêu cầu.
- Đối với tài sản kê biên là phương tiện gồm 01 du thuyền, 02 tàu, 19 ô tô của Trương Mỹ Lan, Trương Huệ Vân do các pháp nhân đứng tên. Xét đây là tài sản của bị cáo Trương Mỹ Lan nên cần tiếp tục kê biên để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong trong toàn bộ vụ án.
- Đối với tài sản kê biên của các bị cáo khác: Đối với các bị cáo Bùi Anh Dũng, Cao Việt Dũng, Dương Tấn Trước, Nguyễn Cao Trí HĐXX xét các bị cáo đều có nghĩa vụ phải thi hành nên xét cần tiếp tục kê biên để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của các bị cáo.
- Đối với các tài sản đứng tên bị cáo Trương Huệ Vân HĐXX xét bị cáo Trương Huệ Vân được bị cáo Trương Mỹ Lan nuôi nấng từ nhỏ, bản chất các tài sản này thực chất là của bị cáo Trương Mỹ Lan nên xét cần tiếp tục kê biên để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với tài sản kê biên của các bị cáo: Bùi Đức Khoa, Hồ Bửu Phương, Trần Thị Mỹ Dung, Từ Văn Tuấn, Hội đồng xét xử xét các bị cáo không có nghĩa vụ, trách nhiệm dân sự liên quan đến vụ án nên cần giải tỏa kê biên trả lại cho các bị cáo.
- Đối với các sổ tiết kiệm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thu của bị cáo Đỗ Thị Nhàn và gia đình.HĐXX xét cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo Đỗ Thị Nhàn.
- Đối với số cổ phần của ngân hàng SCB: HĐXX xét bản chất toàn bộ cổ phần đều thuộc bị cáo Trương Mỹ Lan nên xét cần tiếp tục kê biên để đảm bảo nghĩa vụ thỉ hành án của bị cáo Trương Mỹ Lan. Về tranh chấp quyền sở hữu liên quan đến số cổ phần này (nếu có) là một quan hệ khác giữa các bên liên quan không thuộc phạm vi của vụ án.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền mà các bị cáo Nguyễn Cao Trí, bị cáo Dương Tấn Trước, Cao Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tùng, đã nộp, thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo.
- Đối với 14.001 cổ phần Công ty CP Tư vấn Dịch vụ về tài sản - bất động sản DATC của Đỗ Xuân Nam xét bị cáo không phải chịu trách nhiệm dân sự liên quan đến vụ án nên xét cần chấm dứt ngăn chặn theo quy định.
- Đối với tài khoản phong tỏa Tài khoản phong tỏa liên quan bị cáo Trương Mỹ Lan gồm: bị cáo Trương Mỹ Lan, của Cao Thị Mỹ Liền và Lê Thành Vinh (liên quan việc chuyển nhượng cổ phần tòa nhà Saigon one tower; Phan Văn Me, Lê Nguyễn Hoài Phương (thực chất là tiền của Trương Mỹ Lan nhờ đứng tên giùm), Trương Huệ Vân → tiếp tục phong tỏa để thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với tài khoản phong tỏa liên quan bị cáo Dương Tấn Trước gồm: bị cáo Dương Tấn Trước; Nguyễn Thị Kim Tuyến (vợ Dương Tấn Trước)"; Nguyễn Phạm Khánh Uyên (Cháu vợ Dương Tấn Trước) → tiếp tục phong tỏa để thụực hiện nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Dương Tấn Trước.
- Đối với tài khoản phong tỏa của các bị cáo Nguyễn Cao Trí. Bùi Anh Dũng, Cao Việt Dũng tiếp tục phong tỏa để thực hiện nghĩa vụ của bị cáo Đối với tài khoản phong tỏa của các bị cáo Hồ Bửu Phương, Võ Tấn Hoàng Văn, Trương Khánh Hoàng→ Hội đồng xét xử xét không buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm dân sự liên quan nên cần chấm dứt phong tỏa đối với các tài khoản này
- Đối với tài khoản phong tỏa của công ty Sài Gòn Kim Cương là 789.850.116.470 đồng (công ty mà nhóm vạn thịnh phát nắm chiếm 66,93% vốn điều lệ)→ HĐXX xét công ty Sài Gòn Kim Cương có 66,93% vốn điều lệ là của Trương Mỹ Lan nên cần tiếp tục phong tỏa toàn bộ số tiền này để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với các đồ vật thu giữ của các bị cáo: Đối với các Số tiết kiệm (đứng tên Chu Duyệt Hằng) 03 Sổ tiết kiệm mở tại Vietcombank, gồm:Số 06561260: 17,3 tỷ đồng; Số 07121420: 14,657 tỷ đồng; Số 08765370: 6,7 tỷ đồng→ HĐXX xét đây thực chất là của bị cáo Trương Mỹ Lan nên tiếp tục kê biên đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với Giấy chứng nhận QSDĐ (thu của Từ Văn Tuấn)→HĐXX xét tài sản này không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với các thiết bị điện tử và đồ vật khác (thu giữ của các bị cáo bao gồm điện thoại, máy tính, đồng hồ....): HĐXX xem xét xử lý theo quy định pháp luật Trong quá trình giải quyết vụ án HĐXX có nhận được đơn của bị cáo Trương Mỹ Lan và một số cá nhân tổ chức có giao dịch với bị cáo Truong Mỹ Lan để chuyển nhượng bất động sản, dự án do bị cáo bị bắt nên giao dịch phải ngưng lại, các bất động sản bị kê biên, ngăn chặn, phong tỏa nên đề nghị xem xét được trả lại số tiền đã nhận từ bị cáo hoặc nộp tiếp tiên theo giao dịch đã thỏa thuận đế khắc phục hậu quả cho bị cáo Trương Mỹ Lan được nhận lại cổ phần, dự án nhằm tiếp tục thực hiện, cụ thể:
- a/ Liên quan nhà đất tại 213 Điện Biên Phủ: HĐXX xác định như sau: Tháng 4/2022, ông Hoàng Như Luận (kinh doanh tự do, thường trú tại số 9 Mạc Đĩnh Chỉ, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh) gọi điện cho Trương Mỹ Lan đặt vấn đề muốn chuyển nhượng 06 bất động sản tại địa chỉ 213 Điện Biên Phủ, phường Võ Thị Sáu, quận 3, TP Hồ Chí Minh. Trương Mỹ Lan đã đồng ý và giao cho Tô Thị Anh Đào làm việc cụ thể với Luận về việc chuyển nhượng tài sản. Theo chỉ đạo của Trương Mỹ Lan, Tô Thị Anh Đào đã gặp, trao đổi thỏa thuận và thống nhất về việc mua 06 bất động sản nêu trên của Hoàng Như Luận với giá 480 tỷ đồng, thanh toán ngay 180 tỷ đồng sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng công chứng cho Nguyễn Tiến Đạt (người được thuê đứng tên tài sản); Ngày 6/7/2022, tại Văn phòng Công chứng Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, Hoàng Như Luận và Nguyễn Tiến Đạt ký 06 Hợp đồng chuyển nhượng 06 bất động sản nêu trên (tổng trị giá tài sản ghi trên hợp đồng là 230 tỷ đồng). Thực hiện Hợp đồng, trong ngày 6/7 và 7/7/2022, Tô Thị Anh Đào đã chuẩn bị 180 tỷ đồng tiền mặt (mỗi lần 90 tỷ đồng) để Nguyễn Tiến Đạt giao cho Hoàng Như Luận. Khoảng tháng 10/2022, sau khi nghe tin Trương Mỹ Lan, Tô Thị Anh Đào bị khởi tố bắt tạm giam, Hoàng Như Luận và Nguyễn Tiến Đạt đã thống nhất đi rút hồ sơ hợp sổ đất tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai Quận 3, TP. Hồ Chí Minh để ký hợp đồng chuyển nhượng lại 06 bất động sản nêu trên cho Luận tại Văn phòng Công chứng Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh vào ngày 21/11/2022. Sau khi hợp đồng ký kết được công chứng, Hoàng Như Luận giữ bản chính 06 hợp đồng chuyển nhượng còn Nguyễn Tiến Đạt giữ 06 bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ. Hiện cơ quan tố tụng đã thu toàn bộ giấy chứng nhận và hợp đồng liên quan, HĐXX đã ra lệnh kê biên đối với tài sản này. Để đảm bảo thu hồi tài sản khắc phục hậu quả cho vụ án HĐXX cần tiếp tục kê biên để đảm bảo việc ông Hoàng Như Luận nộp lại số tiền 180 tỷ đồng vào tài khoản của cục thi hành án để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án, song song đó, khi nộp xong số tiền thì ông Luận sẽ được giải tỏa kê biên đổi với tài sản này và nhận lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang bị thu giữ.
- b/ Liên quan quyền sử dụng đất tại địa chỉ 235B Nguyễn Văn Cừ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh : Công ty cổ phần địa ốc Hoàn Hảo được chỉ định mua khu đất 235B Nguyễn Văn Cừ, nhưng việc mua bán đang dở dang, mới thanh toán được 821.000.000.000 đồng/1.106.326.233.193 dồng; được bàn giao 8.063,1m2/15.000m2; công ty Hoàn Hảo còn phải nộp số tiền còn lại, tiền truy thu nghĩa vụ tài chính bổ sung và hỗ trợ di dời các hộ dân đang sinh sống trên khu đất. Bị cáo Trương Mỹ Lan thông qua 03 cá nhân (Nguyễn Tuấn Anh, Hoàng Hữu Long, Mai Hồng) đã sử dụng 1.453,4 tỷ đồng để mua nắm giữ 99,6% cổ phần của Công ty cổ phần Địa ốc Hoàn Hảo. Hiện ông Nguyễn Huyền Nam là đại diện Công ty địa ốc Hoàn Hảo đề xuất trả lại số tiền 1.453,4 tỷ đồng, ông Nam và các cá nhân do ông Nam chỉ định nhận chuyển nhượng lại 99,6% cổ phần vốn góp tại công ty cổ phần địa ốc hoàn hảo từ 03 cá nhân (Nguyễn Tuấn Anh, Hoàng Hữu Long, Mai Hồng) để thực hiện tiếp dự án theo quy định, bị cáo Trương Mỹ Lan cũng đồng ý việc này. Để đảm bảo thu hồi triệt để tài sản cho nhà nước, khắc phục hậu quả cho vụ án HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của các bên theo đó, ông Nguyễn Huyền Nam đại diện Công ty địa ốc Hoàn Hảo nộp lại số tiền 1.453,4 tỷ đồng vào tài khoản của cục thi hành dân sự để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án, song song đó khi nộp xong số tiền thì 03 cá nhân phía bị cáo Trương Mỹ Lan (gồm Nguyễn Tuấn Anh, Hoàng Hữu Long, Mai Hồng) phải giao lại toàn bộ cổ phần tại công ty cổ phần địa ốc Hoàn Hảo cho ông Nguyễn Huyền Nam và các cá nhân do ông Nam chỉ định, việc ngăn chặn liên quan khu đất 235B Nguyễn Văn Cừ cũng được giải tỏa để công ty Hoàn Hảo tiếp tục thực hiện dự án.
- c/ Liên quan 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (là đất thuê trả tiền hàng năm): Công ty Gia Tuệ - Lâm Đồng (gồm 03 cổ đồng là ông Trần Sơn Minh, ông Trần Minh Hoàng, bà Trần Linh Chi)đứng tên chủ đầu tư 02 dự án tại Khu du lịch tại Hồ Tuyền Lâm, thành phố Đà Lạt. Công ty được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Lâm Đồng cấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đắt, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU461953, CU461954, CU461955 để thực hiện dự án. Trương Mỹ Lan đã thỏa thuận mua lại dự án từ công ty Gia Tuệ Lâm Đồng theo hợp đồng khung giữa các cổ đông công ty cổ phần đầu tư và phát triển du lịch Gia Tuệ-Lâm Đồng, công ty cổ phần tư vấn và đầu tự Sunny World và công ty cổ phần đầu tư và phát triển du lịch Gia Tuệ-Lâm Đồng, ký ngày 31/12/2020, với giá 920 tỷ đồng (chỉ định 03 cá nhân, pháp nhân nhận chuyển nhượng cổ phần là Trần Văn Đức nhận chuyễn nhượng 1.000.000 cổ phần từ Trần Minh Hoàng với giá 96 tỷ đồng theo hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 20/1/2021, công ty cổ phần xây dựng Vinh Tường nhận chuyển nhượng 4.100.000 cổ phần từ Trần Minh Hoàng với giá 393,6 tỷ đồng theo hợp đồng chuyễn nhượng ký ngày 263 20/1/2021, Trương Lập Hưng-nhận chuyển nhượng 2.900.000 cổ phần từ Trần Minh Hoàng với giá 278,4 tỷ đồng theo hợp đồng chuyển nhượng ký ngày 20/1/2021). Theo đó, Trương Mỹ Lan đã trả cho Công ty Gia Tuệ - Lâm Đông 672 tỷ đồng để nắm giữ 70% cổ phần tại Công ty Gia Tuệ- Lâm Đồng, tuy nhiên Công ty Gia Tuệ- Lâm Đồng chưa làm thủ tục tăng vốn điều lệ và cấp số cổ đông cho 03 cá nhân/pháp nhân nêu trên. Hiện Công ty Gia Tuệ đề xuất phương án trả lại số tiền 672 tỷ đồng đã nhận bằng việc chuyển nhượng 06 tài sản khác (có chứng thư định giá là 689 tỷ đồng) và hủy hợp đồng nhận chuyển nhượng cổ phần. Bị cáo Trương Mỹ Lan đồng ý phương án mà công ty Gia Tuệ đưa ra. Hội đồng xét xử xét do 02 dự án chưa được triển khai, phía Trương Mỹ Lan mặc dù đã thanh toán 672 tỷ đồng nhưng chưa nắm giữ cổ phần tại Công ty Gia TuệLâm Đồng nên không có cơ sở để thực hiện kê biên dự án hoặc cổ phần tại Công ty Gia Tuệ- Lâm Đồng (là đất thuê nhà nước trả tiền hằng năm). Để đảm bảo thu hồi triệt để tài sản cho nhà nước, khắc phục hậu quả cho vụ án HĐXX xét cn buộc công ty Gia Tuệ nộp lại 672 tỷ đồng để đảm bảo nghĩa vụ bồi hoàn của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án, tiếp tục kê biên 06 bất động sản mà HĐXX đã kê biên để đảm bảo thi hành án nghĩa vụ hoàn trả của công ty Gia Tuệ Lâm Đồng. Trả lại cho công ty Gia Tuệ Lâm Đồng 03 Giấy chứng nhận QSDĐ tại tỉnh Lâm Đồng (đang được cục C03 – Bộ công an tạm giữ) và chấm dứt ngăn chặn đối với 03 quyền sử dụng đất này để công ty tiếp tục thực hiện dự án. (Hợp đồng khung giữa các cổ đông công ty Gia Tuệ -Lâm Đồng với công ty Sunny World và công ty Gia Tuệ Lâm Đồng, hợp đồng chuyền nhượng cổ phần giữa các cổ đông của công ty Gia Tuệ Lâm Đồng với các tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng phía Trương Mỹ Lan bị hủy bỏ)
- d/ Đối với 03 dự án liên quan Công ty Cổ phần thương mại và Xây dựng Thành Hiếu (viết tắt là Công ty Thành Hiếu) và Công ty Cổ phần Phương Trang FUTABUSLINE (viết tắt là Công ty Phương Trang): Phía Công ty Phương Trạng (bao gồm ông Phạm Đăng Quang, ông Nguyễn Hữu Luận và và Công ty Cổ phần Phương Trang FUTABUSLINE) đã chuyển nhượng cho Trương Mỹ Lan (thông qua 03 cá nhận là Nguyễn Thị Minh, Lê Nguyễn Hồng Ân, Nguyễn Thị Huyền Anh) cổ phần của công ty Thành Hiếu (công ty Thành Hiếu, là công ty con của công ty Phương Trang, là chủ đầu tư 03 dụ án là: Golden Gate, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; khu dân cư Thành Hiếu Long An và khu tái định cư Thành Hiểu) với giá 3.450 tỷ đồng, nhưng phía Trương Mỹ Lan mới thanh toán được 1.200 tỷ đồng. Để thực hiện dự án theo thỏa thuận thì phía công ty Phương Trang đã bàn giao các giấy tờ pháp lý, điều lệ, con dấu, tài liệu liên quan đến dự án cho Trương Mỹ Lan (phía công ty Phương Trang chỉ mới bàn giao 01 dự án cho phía Trương Mỹ Lan là dự án Golden Gate). Trương Mỹ Lan đã tự ý dùng Dự án Golden Gate, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thế chấp cho Ngân hàng SCB để vay tiền. Hiện các dự án đều bị ngưng trệ, không thực hiện được, phía công ty Phương Trang đề xuất được trả lại số tiền đã nhận là 1200 tỷ đồng và hủy bỏ biện pháp phong tỏa cổ phần công ty Thành Hiếu, hủy bỏ ngăn chặn tài sản liên quan đến công ty thành Hiếu làm chủ đầu tư, hủy bỏ giao dịch chuyển nhượng cổ phần, yêu cầu phía bị cáo Trương Mỹ Lan, công ty Vạn Thịnh Phát chuyển trả pháp nhân công ty nguyên trạng trước khi nhận chuyền nhượng. Hội đồng xét xử xét : Dụ án Golden Gate, Quận 7 mặc dù hiện đang thế chấp tại Ngân hàng SCB tuy nhiên việc thế chấp là do bị cáo Trương Mỹ Lan sau khi được bàn giao dự án đã tự ý thực hiện mà không bàn bạc hay có sự thống nhất, đồng ý nào từ phía công ty Phương Trang (Do phía bị cáo Trương Mỹ Lan chỉ mới thanh toán 1200 tỷ đồng/3.450 tỷ đồng cho phía công ty Phương Trang), hiện toàn bộ 03 dự án đều bị ngưng trệ không thể tiếp tục thực hiện, theo đó để đảm bảo quyền lợi của bên liên quan cần xem xét cho phía Công ty Phương Trang hoàn trả lại 1.200 tỷ đồng đã nhận từ bị cáo Lan vào tài khoản của cục thi hành dân sự để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án. Song song đó HĐXX xét cần phải hủy bỏ giao dịch chuyển nhượng 100% cổ phần công ty Thành Hiếu giữa phía công ty Phương Trang(bao gồm ông Phạm Đăng Quang, ông Nguyễn Hữu Luận và và Công ty Cổ phần Phương Trang FUTABUSLINE) và phía Trương Mỹ Lan (gồm Nguyễn Thị Minh, Lê Nguyễn Hồng Ân, Nguyễn Thị Huyền Anh) giao lại số cổ phần của công ty Thành Hiếu cho phía công ty Phương Trang, hủy bỏ biện pháp phong tỏa cổ phần của Công ty Thành Hiếu, hủy bỏ ngăn chặn 03 dự án liên quan đến Công ty Thành Hiếu làm chủ đầu tư, hủy bỏ thể chấp liên quan đến dự án golden gate và cổ phần của công ty Thành Hiếu, yêu cầu SCB giao lại giấy tờ liên quan đến dự án golden gate và cổ phần của công ty Thành Hiếu cho Công ty Cổ phần Phương Trang để công ty để tiếp tục thực hiện dự án, (về khoản vay tại SCB được thế chấp bằng dự án Golden Gate và cổ phần của công ty Thành Hiếu thì đã buộc bị cáo Lan phải chịu trách nhiệm hoàn trả lại cho SCB 1284 khoản vay)
- Bên cạnh đó trong quá trình xét xử HĐXX còn nhận được đơn, yêu cầu của một số cá nhân, tổ chức, ngân hàng đang có tài sản bị ngăn chặn, phong tỏa bởi cơ quan điều tra, hoặc có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cổ phần đang bị thu giữ. Các cá nhân tổ chức này cho rằng không liên quan đến bị cáo Lan nên đề nghị HĐXX xem xét giải tỏa ngăn chặn, trả lại tài sản đề xử lý theo quy định pháp luật.cụ thể như sau:
- a/liên quan các bất động sản đang thế chấp tại ngân hàng Sacombank: Theo báo cáo của ngân hàng Sacombank thì hiện ngân hàng có một số tài sản đang thế chấp đảm bảo cho các khoản vay tại ngân hàng nhưng đang bị cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an ngăn chặn trong quá trình rà soát, xác minh các tài sản liên quan đến vụ án. Hiện nay, các bất động sản nêu trên đang là tài sản bảo đảm cho các khoản vay tại Ngân hàng Sacombank và các khoản vay này đều thuộc nhóm nợ xấu, cần phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, khắc phục thiệt hại cho Ngân hàng Sacombank theo thỏa thuận của các bên trong các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp và các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng và xử lý tài sản bảo đảm. HĐXX xét để đảm bảo quyền của ngân hàng cũng như để đảm bảo thu hồi triệt để tài sản cho nhà nước cần xет xét chấm dứt ngăn chặn giao các bất động sản trên cho ngân hàng để đảm bảo xử lý các các khoản vay tại ngân hàng được đảm bảo bằng các tài sản này, phần tiền còn lại sau khi xử lý các khoản nợ (nếu có) được xác định là của bị cáo nào thì đề nghị ngân hàng nộp lại để đảm bảo nghĩa vụ tương ứng của các bị cáo, cụ thể:
- + Tài sản thứ nhất: Bất động sản tọa lạc tại địa chỉ số 53 Phạm Ngọc Thạch, Phường 6 (Nay là Phường Võ Thị Sáu), Quận 3, TP. Hồ Chí Minh, đứng bà Nguyễn Thị Hoàng. Tài sản tại 53 Phạm Ngọc Thạch thuộc sở hữu của Trương Mỹ Lan và Nguyễn Thị Hoàng chỉ là cá nhân được nhờ đứng tên, tài sản đang đảm bảo khoản vay tại ngân hàng với khoản nợ 412 tỷ đồng. (tổng nghĩa vụ nợ của bà Nguyễn Thị Hoàng đối với Ngân hàng Sacombạnk (bao gồm nợ vay gốc và lãi) là 475 tỷ đồng, Giá trị tài sản bảo đảm là Bất động sản số 53 Phạm Ngọc Thạch được định giá là 480 tỷ đồng) → HĐXX chấm dứt ngăn chặn giao các bất động sản trên cho ngân hàng Sacombank để đảm bảo xử lý các các khoản vay tại ngân hàng được đảm bảo bằng các tài sản này, phần tiền còn lại sau khi xử lý các khoản nợ (nếu có) được xác định là của bị cáo Trương Mỹ Lan nên cần chuyển về cục thi hành án dân sự để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- + Tài sản thứ hai: Bất động sản tọa lạc tại địa chỉ số 64-68 Trần Quốc Thảo, Phường 7, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh, đứng tên ông Hồ Quốc Minh. Hồ Quốc Minh là đối tượng liên quan đến hành vi của Nguyễn Cao Trí hiện đã xuất cảnh đi nước ngoài, tài sản đang đảm bào khoản vay. (tổng nghĩa vụ nợ của ông Hồ Quốc Minh và bà Trần Thị Thu Trang đối với Ngân hàng Sacombank (bao gồm nợ vay gốc và lãi) được bảo đảm bằng Bắt động sản số 64-68 Trần Quốc Thảo là 673 tỷ đồng)) → HĐXX chẩm dứt ngăn chặn giao các bất động sản trên cho ngân hàng Sacombank để đảm bảo xử lý các các khoản vay tại ngân hàng được đảm bảo bằng các tài sản này, phần tiền còn lại sau khi xủ lý các khoản nợ (nếu có) yêu cầu chuyển về tài khoản của bộ công an để xử lý sau khi tiếp tục làm rõ đối với Hồ Quốc Minh
- + Nhóm tài sản thứ ba: gồm 26 Căn hộ/Shophouse thuộc Dự án Eco Green Sài Gòn, địa chỉ 107 Nguyễn Văn Linh, Phường Tân Thuận Tây, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh. thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH Thương Mại và Sản Xuất Tường Việt tổng nghĩa vụ nợ của Công ty Tường Việt đối với Ngân hàng Sacombank (bao gồm nợ vay gốc và lãi là 770 tỷ đồng))→ HĐXX chẩm dứt ngăn chặn giao các bất động sản trên cho ngân hàng Sacombank để đảm bảo xủ lý các các khoản vay tại ngân hàng được đảm bảo bằng các tài sản này, phần tiền còn lại sau khi xử lý các khoản nợ (nếu có) được xác định là của bị cáo Dương Tấn Trước và Cao Việt Dũng nên cần chuyển về cục thi hành án dân sự để đảm bảo nghĩa vụ của các bị cáo cáo Dương Tấn Trước và Cao Việt Dũng trong vụ án.
- + Tài sản thứ tư: Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 428-47, Tờ bản đồ số 07 (xã Phú Mỹ), địa chỉ Phường Tân Phú, Quận 7, TP. Hồ Chí Minh đứng tên ông Cao Việt Dũng. Hiện đã được chuyển nhượng cho ông Phạm Đăng Phong theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền đất) ký với ông Cao Việt Dũng và bà Đinh Hải Yến (Ông Phong vay tiền của ngân hàng số tiền 39.000.000.000 đồng (Ba mươi chín tỷ đồng) để mua của Cao Việt Dũng và thế chấp toàn bộ tài sản này để đảm bảo khoản vay. )→ HĐXX chấm dứt ngăn chặn giao các bất động sản trên cho ngân hàng Sacombank để đảm bảo xử lý các các khoản vay tại ngân hàng theo quy định.
- b/ liên quan các bất động sản của ông Nguyễn Sơn Hải Long và gia đình: Nguyễn Sơn Hải Long là giám đốc công ty One Truss là 01 trong các công ty có nhiều giao dịch kinh tế với bị cáo Trương Mỹ Lan và tập đoàn Vạn Thịnh Phát, trong quá trình điều tra để đảm bảo công tác rà soát, thu hồi tài sản, C03 đã ban hành công văn 100 ngăn cản chuyển dịch các tài sản liên quan đến ông Long cùng gia đình (cha mẹ, anh em), theo ông Long trình bày là không liên quan đến vụ án. HĐXX xét các tài sản không liên quan đến vụ án và ông Nguyễn Son Hải Long cùng gia đình (cha, mę, anh, em) không có nghĩa vụ dận sự trong vụ án nên để đảm bảo quyền của người dân HĐXX xem xét chấm dứt ngăn chặn chuyển dịch đối với các tài sản sau:
- 1/ 08 tài sản tại Long An; Tổng diện tích: 800 m2; Do UBND tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh; Quyền sử dụng đất thửa đất số 6800; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AP 473995; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: H 02638; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh Quyền sử dụng đất thửa đất số 6802; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AP 473996; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: H 02639; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh Quyền sử dụng đất thửa đất số 6804; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AP 473997; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: H 02675; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh Quyền sử dụng đất thửa đất số 6801; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AP 473998; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: H 02676; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh Quyền sử dụng đất thửa đất số 6786; Tờ bản đồ số: 03; Địa chi: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: 267 đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AP 500088; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: H 03317; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh - Quyền sử dụng đất thửa đất số 6787; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giảy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AP 500089; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: H 03318; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh - Quyền sử dụng đất thửa đất số 6784; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: CE 072777; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyển sử dụng đất: CS 07015; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh Quyền sử dụng đất thửa đất số 6785; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: CR 565366; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: CS 11833; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thanh Minh
- 2/ Quyền sử dụng đất thửa đất số 6803; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: AP 473990; Số vào số cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: H 02661; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Trần Văn Khương và Nguyễn Thùy Diễm Hằng N09/06/2009;
- 3/Quyền sử dụng đất thửa đất số 6783; Tờ bản đồ số: 03; Địa chỉ: phường 06, thị xã Tân An (nay là Thành phố Tân An), tỉnh Long An; Mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; Diện tích: 100 m2; Theo Giấy chứng nhận Quyển sử dụng đất số: BB 060958; Số vào sổ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: CH00406; Do UBND Tân An, tỉnh Long An, Sở TNMT tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Thùy Diễm Phượng N21/07/2010/2009;
- 4/ Nhà số 117 đường Hoàng Văn Thụ, Phường 8, quận Phú Nhuận, Tp HCM; Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ Hồ sơ gốc số 7779/99 Do UBND TPHCM cấp ngày 01/07/1999. Diện tích đất 92,17 m2
- 5/ Nhà số 119-121 đường Hoàng Văn Thụ, Phường 8, quận Phú Nhuận, Tp HCM; Giấy chứng nhận QSHNƠ và QSDĐƠ sỐ 797682706401029; Hồ sơ gốc số 728/2007/UB- GCN do UBND Quận Phú Nhuận cấp ngày 10/07/2007; Diện tích đất 203,2 m2 6/ Giấy chứng nhận QSĐ số N 201960 do Chủ tịch UBND Quận 8 cấp 268 ngày 25/10/1999; vào sổ cấp GCN QSDD sỐ 00379 QSDĐ/3844/ QÐ- UB. Thửa đất số 1003,1004,1005 tờ bản đồ số 4 địa chỉ: Phường 16, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; Diện tích: 1480 m2; Đất ao ; chủ sở hữu : Nguyễn Sơn Hải Long 7/ Giấy chứng nhận QSĐ số N 201959 do Chủ tịch UBND Quận 8 cấp ngày 25/10/1999; vào sổ cấp GCN QSDD sỐ 00380 QSDĐ/3845/ QÐ- UB. Thửa đất số 1007,1008 tờ bản đồ số 4 địa chỉ: Phường 16, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; Diện tích: 1090 m2; Đất ao ; chủ sở hữu : Nguyễn Sơn Hải Long ( Chinh lý theo số mới sau khi đo vẽ lại: thửa đất số 56, tờ bản đồ số 13, địa chỉ phường 16, Quận 8, tp.HCM; Diện tích 1024,4 m2; hình thức: sử dụng riêng, mục đích: đất nuôi trồng thủy sản)
- c/ liên quan các bất động sản của Bà Phạm Thị Kim Trâm: nhận chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ 81 Nguyễn Thái Học, Quận 1 từ công ty cổ phần bách hóa miền nam từ năm 2017 (từ trước khi công ty được bán cho Vạn Thịnh Phát, Trương Mỹ Lan)Tuy nhiên công văn 100 khi ngăn cản chuyển dịch các tài sản liên quan công ty Bách Hóa Miền Nam đã ngăn cản chuyển dịch luôn tài sản này. HĐXX xét các tài sản không liên quan đến vụ án nên để đảm bảo quyền của người dân HĐXX xem xét chấm dứt ngăn chặn chuyển dịch đối với tài sản là nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ 81 Nguyễn Thái Học,, Thành phố Hồ Chí Minh.
- d/ Phía Ông Đào Anh Tuấn, Công ty Âu Lạc, Công ty Hạ Long đề nghị xem xét lại phạm vi hợp tác giữa công ty và công ty Suny World phía bị cáo Trương Mỹ Lan là chỉ 243 căn nhà phố khu Hoàng Long chứ không phải hợp tác trên toàn bộ diện tích dự án khu biệt thự Morningstar và khu biệt thự Hoàng Long, công ty đề nghị tháo dỡ việc tạm dừng mua bán toàn bộ dự án khu biệt thự Morningstar và khu biệt thự Hoàng Long. giải tỏa khu ngoài ranh hợp tác gồm quyền sử dụng lô SK1-diện tích 4.404,4 m2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở đối với 66 căn biệt thự đơn lập có diện tích 32.850m2 được tiếp tục hoạt động đầu tư xây dựng dịch vụ DV-02 diện tích 3.076m2. Hội đồng xét xử xét đây là đề nghị chính đáng của phía ông Đào Anh Tuấn, công ty Âu Lạc và công ty T&H Hạ Long nên xét cần chấm dứt ngăn cản chuyển dịch theo như đề nghị của phía phía ông Đào Anh Tuấn, công ty Âu Lạc và công ty T&H Hạ Long.
- e/ Đối với khu đất số 44 Trần Đình Xu, quận 1, TP. Hồ Chí Minh:bị cáo Trương Mỹ Lan giao cho Công ty CP Tập đoàn Công nghệ và Đầu tư Việt Nam đứng tên sở hữu (Công ty do Nguyễn Vũ Anh Thi làm đại diện pháp luật). Tài sản này đã được lập vi bằng giao cho bà Hoàng Thị Anh Trang để vay số tiền 200 tỷ đồng. Tại phiên tòa bà Trang đề nghị bà Lan trả lại số tiền đã vay cùng với số tiền lãi tính đến thời điểm xét xử là 235 tỷ đồng, Nguyễn Vũ Anh Thi vắng mặt nhưng có đơn gửi HĐXX trình bày đây là tài sản của bị cáo Trương Mỹ Lan, bị cáo chỉ đứng tên để thực hiện các giao dịch, bị cáo Trương Mỹ Lan không có ý kiên gì. Theo đó HĐXX xét cần chấm dứt phong tỏa theo công văn 4028 ngày 24/10/2022 của Cục C03-BCA, giao tài sản này cho bà Hoàng Thị Anh Trang để quản lý, xử lý bảo đảm khoản nợ giữa 02 bên là 235 tỷ đồng, phần tiền còn lại sau khi xử lý khoản nợ (nếu có) được xác định là của bị cáo Trương Mỹ Lan nên cần chuyển về cục thi hành án dân sự để đảm bảo nghĩa vụ của bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với Khu tái định cư-Khu đô Thị Sing Việt (diện tích 360ha tại huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh): Khu đô thị và Khu tái định cư Sing Việt (100% cổ phần Công ty Amaland PTE tại Singapore). HĐXX xét Công ty TNHH Đô thị Sing Việt là chủ đầu tư của Dự án Khu đô thị mới Sing - Việt và Khu tái định cư Khu đô thị mới Sing - Việt, địa chỉ tại xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh. Dự án này đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND TP Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đầu tư, có Quyết định phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường; Quyết định phê duyệt quy hoạch chỉ tiết tỷ lệ 1/2000 (trong đó, một vài phân khu đã được phê duyệt tỷ lệ 1/500). Dự án đã được đền bù giải phóng mặt bằng Khu tái định cư; còn với Khu đô thị thì chưa đền bù, giải phóng mặt bằng xong. Cả Khu tái định cư và Khu đô thị chưa được triển khai xây dựng do chưa được cấp Giấy phép xây dựng. Công ty Amaland PTE.LTD, được thành lập tại Singapore, trụ sở tại: 7500A Beach Road, #9-316 The Plaza, Singapore 199591 là Công ty sở hữu 100% vốn góp tại Công ty TNHH Đô thị Sing Việt. Ngày 05/4/2020, Công ty Amaland PTE.LTD (Bên bán) và Công ty CP Đầu tư Singapore - Việt Nam (SVIC - Bên mua) đã ký Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty TNHH Đô thị Sing Việt và một Hợp đồng phụ kèm theo; giá trị Hợp đồng chuyển nhượng là 170 triệu đô-la Mỹ và đã thanh toán trước 16,5 triệu USD; 02 lần mỗi lần chuyển 50 triệu USD vào tài khoản tạm khóa và đề nghị Công ty Amaland chuyển giao cổ phần.(hợp đồng không hủy ngang) Trương Mỹ Lan đã sử dụng 147 triệu USD thông qua công ty Vivaland để mua cổ phần của các cổ đông sở hữu Công ty Amaland tại Singapore và Công ty Amaland đã ủy quyền cho 03 cá nhân (do Trương Trương Mỹ Lan chỉ định) năm giữ vốn góp tại Công ty TNHH Đô thị Sing Việt - chủ đầu tư Dự án khu đô thị Sing Việt (Do Trương Mỹ Lan và Chu Lập Cơ hiện đang bị khởi tố điều tra do đó phía Singapore từ chối hoàn tất thủ tục chuyển cổ phần về cho Chu Duyệt Phấn)
- Hiện công ty SIVC đang khởi kiện Công ty Amaland PTE.LTD và ông Dato Yap tại TAND TP Hồ Chí Minh HĐXX xét trong vụ án này, bị cáo Trương Mỹ Lan đã sử dụng rất nhiều tiền của SCB để mua các bất động sản, liên quan việc bị cáo Trương Mỹ Lan sử dụng tiền thông qua công ty Vivaland để mua cổ phần của các cổ đông sở hữu Công ty Amaland có phải từ nguồn tiền của ngân hàng SCB hay không thì chưa được làm rõ, do đó HĐXX đề nghị C03 tiếp tục điều tra làm rõ, để có căn cứ thu hồi số tiền này từ Công ty Amaland PTE.LTD, bị cáo Trương Mỹ Lan để khắc phục hậu quả cho vụ án.
- Đối với 143 bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ tái định cư tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An (các tài sản này không bị kê biên), UBND tỉnh Long An đề nghị được nhận để bố trí tái định cư cho các hộ dân và chuyển số tiền Công ty TNHH MTV An Nhựt Tân Long An được nhận khi hoàn tất thủ tục chuyển quyền, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho các hộ dân tái định cự để khắc phục hậu quả cho bị can Trương Mỹ Lan. Hội đồng xét xử xét đây là đề nghị chính đáng của UBND tỉnh Long An nên xét cần giao lại các bản chính 143 bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ tái định cư tại xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An cho UBND tỉnh Long An đề nghị UBND tỉnh Long An chuyền số tiền Công ty TNHH MTV An Nhựt Tân Long An được nhận khi hoàn tất thủ tục chuyển quyền, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho các hộ dân tái định cư để khắc phục hậu quả cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án.
- Đối với các tài sẵn, khoản tiền mà HĐXX xác dịnh để khắc phục, đảm bảo nghĩa vụ cho bị cáo Trương Mỹ Lan trong toàn bộ vụ án là bao gồm vụ án này và các vụ án của các giai đoạn tiếp theo nhưng ưu tiên thi hành án cho các bị hại liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong việc phát hành trái phiếu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét