1
TÒA ÁN
NHÂN DÂN KHU VỤC 5 - KHÁNH HÒA
Bản án số:
18/2026/DS-ST
Ngày: 23 - 4
- 2026 V/v: Buộc xin lỗi công khai; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh
dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA
- Thành
phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán
- Chủ toạ phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Diệu.
Các Hội
thẩm nhân dân:
1. Ông Trần
Văn Bình.
2. Bà Nguyễn
Thị Minh Trâm.
- Thư
ký phiên tòa:
Ông Trần Mạnh Long –
Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.
- Đại
diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Phúc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 23
tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số 207/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2025 về
việc “Buộc xin lỗi công khai; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
21/2026/QĐXXST-DS, ngày 03 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên
đơn: Bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ
dân phố C, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
2. Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Tổ
dân phố A, phường B, tỉnh Khánh Hòa (có mặt).
3. Người làm
chứng:
- Ông Huỳnh
Văn H1, sinh năm 1969.
Nơi cư trú:
1 L, phường P, tỉnh Khánh Hòa (vắng mặt).
- Bà Dương
Thị R, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Tổ
dân phố N, phường N, tỉnh Khánh Hòa (xin vắng mặt).
NỘI DUNG
VỤ ÁN:
2
Tại đơn
khởi kiện đề ngày 14/10/2025, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa
nguyên đơn trình bày:
Khoảng tháng
6/2025 bà đi hát phòng trà nên có gặp và quen biết bà Nguyễn Thị Minh H. Quá
trình quen biết thì bà có kể cho bà H nghe chuyện khoảng tháng 6/2025 bà đi tắm
biển có quen một người em khoảng 30 mấy tuổi giữ xe ở bãi giữ xe Quang Nga, do
hàng ngày đi tắm biển bà gửi xe ở đây; và bà có kể cho bà H nghe về việc người
đàn ông này nói bà khi nào rảnh thì mời đi ăn nhưng bà chưa đi ăn lần nào. Bà
chỉ biết người đàn ông này tên D (họ tên hay địa chỉ cụ thể thì không biết). Bà
và người đàn ông này không nhắn tin qua lại, có 01 lần ông D có nhắn tin cho
bà, nhưng sau đó nói là nhắn nhầm và có nhắn tin xin lỗi, sau đó bà đã xóa kết
bạn với người này. Ngoài ra, bà không kể cho bà H nghe về chuyện nào khác liên
quan đến người đàn ông giữ xe ở Quang Nga. Sự việc bà kể chỉ là chuyện vui giữa
bà và bà H. Không có việc bà kể cho bà H nghe về việc bà có mối quan hệ ngoại
tình hay mối quan hệ tình cảm với người đàn ông giữ xe ở quán Quang Nga; không
có việc bà kể là người đàn ông này nói da thịt bà mịn màng không giống vợ của
ông... tất cả những nội dung này không có thật.
Khi quen bà
H thì bà có nghe bà H kể đã quen biết với chồng bà là ông Huỳnh Văn H1 10 năm,
việc ông H1 có bạn gái ở Hà Nội và có con rơi muốn đi nhận con. Và bà có kể cho
bà H nghe về việc bà vay ngân hàng, bà H có hỏi bà tại sao vay ngân hàng mà chồng
bà không biết là sao? Thì bà nói chuyện này đâu có liên quan gì đến em và tức
thái độ bà H về việc hỏi chuyện riêng tư gia đình nên bà chặn liên lạc zalo,
facebook với bà H.
Ngày
12/9/2025, bà H chặn đường bà chỗ quán bún mắn nêm bà T và hỏi lý do vì sao chặn
số liên lạc thì bà không trả lời. Bà đi về nhà thì bà H đi theo về tới nhà đứng
trước cửa chửi bà với nội dung, dùng từ ngữ thô tục như “Mày đéo thằng giữ
xe dưới biển, cả xã hội này ai cũng biết…” và tiếp tục lên hàng bún mắn nêm
bà T tiếp tục nói bà như vậy. Đến ngày 17/9/2025 bà gửi đơn trình báo sự việc đến
Công an phường P, sự việc đã được Công an phường P giải quyết. Khoảng 10 ngày
sau bà H tới chửi bà tiếp lần 2, bà đã trích xuất các video gửi cho Tòa án.
Sau khi bà
không liên lạc thì bà H nhắn tin cho chồng bà qua zalo và nhắn tin vào số điện
thoại cho bà và nhắn tin cho bạn bà để nói xấu bà. Bà H đến nhà chửi bà 02 lần
trước cổng nhà, có nhiều người qua lại, do bực tức thì bà có nói lại bà H là “con
tiểu tam; phá ra cang”. Ngoài ra, bà H nhắn tin kích động chồng bà phải ly
hôn bà và dùng vũ lực để đánh đập bà. Và thực tế, ông H1 có dùng vũ lực tay
không đánh bà gây bầm tay. Vì bị bà H bôi nhọ, xúc phạm danh dự, uy tín nên bà
suy nghĩ nhiều, căng thẳng phải điều trị do bị sơ vữa mạch máu não, điều trị tại
Thành phố Hồ Chí Minh đến nay vẫn đang điều trị tại bệnh viện T1.
Do đó, bà khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Yêu cầu bà H phải xin lỗi công khai và
bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho bà với số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Tại phiên
Tòa bà có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Buộc bà Nguyễn Thị Minh
H phải xin lỗi công khai bà tại phiên tòa và bồi thường tổn thất
3
về tinh thần
cho bà bằng 8 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định, tương đương số tiền
18.720.000 đồng.
Trong quá
trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Minh H trình bày:
Khoảng đầu
tháng 5/2025 bà và bà N có quen biết nhau, quá trình chơi chung cùng nhau thì
bà N có nhiều lần kể cho bà nghe chuyện cá nhân, riêng tư của bà N. Bà N kể cho
bà nghe rất nhiều chuyện trong đó có cả những chuyện tế nhị của bà N như: Có
quen biết với người đàn ông giữ xe ở quán Quang Nga; người đàn ông này nói bà N
là da thịt bà mịn màng không giống vợ của ông; người đàn ông này cũng vài lần mời
bà N đi ăn dưới biển... Bà chỉ nghe bà N kể bằng miệng, bà không có chứng cứ
hay bằng chứng gì chứng minh việc bà N có mối quan hệ với người đàn ông nêu
trên. Khi bà N kể cho bà nghe thì chỉ có bà và bà N ngoài ra không có ai chứng
kiến.
Ngoài nghe
bà N tâm sự về người đàn ông giữ xe ở quán Quang Nga, thì bà còn được nghe ông
Huỳnh Văn H1 là chồng bà N và bà Mai Lý Lệ H2 và bà T bán bún mắn nêm kể về việc
ông H1 phát hiện bà N ngoại tình với người đàn ông giữ xe ở quán Quang Nga, còn
sự việc bà N có ngoại tình với người đàn ông giữ xe ở quán Quang Nga hay không
thì bà không chứng kiến.
Khoảng cuối
tháng 8/2025 bà N có mâu thuẫn với ông H1, lúc này bà N lại cho rằng mọi nguyên
nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bà và nói bà là đã kể xấu bà N với ông H1. Bà đã
nói với bà N là bà không kể gì với ông H1 nhưng bà N không tin và khẳng định bà
là người xúi ông H1 đánh đập bà N. Khoảng tháng 10/2025 (không nhớ ngày) thì bà
N lại nói bà là tạt axit nên ông H1 có gọi điện thoại chửi bà nên bà mới đi về
P để gặp bà N nhưng bà N không chịu gặp bà để nói chuyện. Tại nhà bà N có xảy
ra việc hai bên to tiếng, bà có nói bà N là “mày đéo thằng giữ xe dưới biển
cả xã hội đều biết mày tốt đẹp gì...” sau bà đi về. Việc bà nói bà N như vậy
là do trong lúc nóng giận không kiềm chế được, bà nhận thức lời nói, hành động
của mình là sai.
Đối với 04
video mà bà N cung cấp cho Tòa án thì bà xác định, nội dung video có ghi nhận
hình ảnh, lời nói của bà và của bà N, đây là những lời nói của bà khi mà bà đến
nhà bà N 02 lần để nói chuyện nhưng bà N không có thiện chí nên cả 02 lần xảy
ra cãi qua lại giữa bà và bà N. Nội dung sự việc cãi qua lại nêu trên phù hợp với
nội dung của 04 video mà bà N đã cung cấp. Đối với nội dung màn hình tin nhắn
zalo tại bút lục số 8, số I là tin nhắn của bà nhắn gửi cho ông H1.
Bà nhận thấy
việc mình nói bà N như vậy là sai nên đồng ý xin lỗi bà N tại Tòa án. Bà không
đồng ý bồi thường tổn thất về tinh thần cho bà N 50.000.000 đồng.
Tại nhà bà N
thì bà cũng bị bà N chửi bới xúc phạm bà có sự chứng kiến của ông H1, bà N chửi
bà là “con đĩ”, “mày đi nhậu mày đéo hết mấy ông bạn ông H1”, “con đĩ tiểu
tam phá ra cang của tao”... Việc bà N chửi, xúc phạm bà nhưng
4
do bà muốn
yên ổn nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết sự việc trên, nếu có yêu cầu bà sẽ
khởi kiện bằng vụ án khác.
Tại phiên
tòa bà H thay đổi ý kiến cụ thể: Bà đồng ý xin lỗi bà N tại phiên tòa. Bà đồng
ý bồi thường tổn thất về tinh thần cho bà N bằng 4 lần mức lương cơ sở do nhà
nước quy định, tương đương số tiền 9.360.000 đồng.
Người làm
chứng bà Dương Thị R trình bày: Ngày 12/9/2025, bà có tới quán bún nắm nêm của bà T đối diện
nhà máy nước P, bà có nghe bà H chửi bà N là mày đéo thằng giữ xe dưới biển B cả
xã hội này ai cũng biết, rồi bả nói bà N đi khách sạn với thằng giữ xe rồi la
làng tại hàng bún nắm nêm ai cũng biết. Tại chỗ quán bún rất đông người. Bà là
người chứng kiến sự việc trên, cam kết lời khai là đúng sự thật.
Ý kiến của
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Việc tuân
theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá trình giải
quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của
pháp luật. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự
trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền
và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Người làm chứng ông H1 vắng mặt
không có lý do; Bà R xin vắng mặt tại phiên tòa căn cứ Điều 229 của Bộ luật tố
tụng dân sự (viết tắt BLTTDS) đề nghị xét xử vắng mặt họ.
Về nội dung
vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn về bồi thường tổn thất tinh thần là 04 tháng lương sơ sở do Nhà nước quy định
(2.340.000đ x 4 tháng = 9.360.000 đồng). Buộc bà H bồi thường cho bà N
9.360.000 đồng; Công nhận sự thỏa thuận của bà N và bà H về việc bà H đồng ý
xin lỗi bà N tại phiên tòa. Về án phí đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN:
Sau khi
nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau
khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về xác
định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu
Tòa án giải quyết buộc bị đơn xin lỗi công khai; bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm hại, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh
chấp là “Buộc xin lỗi công khai; Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự,
nhân phẩm, uy tín bị xâm hại” theo khoản 6 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư
trú tại phường B, tỉnh Khánh Hòa, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản
1 Điều 39 của BLTTDS; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người
chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.
5
[1.2] Người
làm chứng ông Huỳnh Văn H1 vắng mặt không có lý do; bà Dương Thị R xin vắng mặt.
Căn cứ Điều 229 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội
dung vụ án:
[2.1] Trong
quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận: Vào ngày 12/9/2025
và ngày 16/10/2025, tại nhà bà N ở tổ dân phố C, phường P, tỉnh Khánh Hòa, bà H
đã có hành vi to tiếng và có nói bà N là “mày đéo thằng giữ xe dưới biển cả
xã hội đều biết mày tốt đẹp gì...”; “mày xuống mày nằm cho cái thằng giữ xe đéo
mày chứ ở đâu ai mà không biết, mày đi mày khoe tùm lum a, đồ có cái ông H1 mặt
ông chành rành ông mới chấp nhận mày chứ, đồ cái thứ mày thúi cả xã hội
luôn…tao banh cho cả làng biết luôn…” nên thuộc tình tiết, sự kiện không phải
chứng minh, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
[2.2] Bà N
cho rằng không có mâu thuẫn gì với bà H, nhưng trong thời gian chơi chung cùng
nhau bà nhận thấy bà H thường xuyên quan tâm quá mức tới chuyện riêng tư gia
đình của bà nên bà không muốn kết bạn, chặn zalo, facebook. Thì bà H lại nhắn
tin cho ông H1 là chồng bà để nói xấu và đến nhà chửi bà, dẫn đến vợ chồng bà xảy
ra nhiều mâu thuẫn. Do bị bà H bôi nhọ, xúc phạm, danh dự, uy tín nên bà suy
nghĩ nhiều, tinh thần căng thẳng nghiêm trọng phải sử dụng thuốc để điều trị.
Bà yêu cầu bà H phải xin lỗi công khai bà tại phiên tòa và bồi thường tổn thất
về tinh thần cho bà bằng 8 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định, tương
đương số tiền 18.720.000 đồng.
[2.3] Bà H
thừa nhận việc bà nói bà N như vậy là không có căn cứ, do trong lúc nóng giận
không kiềm chế được, bà nhận thức lời nói, hành động của mình là sai. Nội dung
màn hình tin nhắn Zalo tại bút lục số 8, số I là tin nhắn của bà gửi cho ông
H1. Bà xác nhận nội dung bà viết ra có câu từ chưa chuẩn mực, thô tục, xúc phạm
danh dự bà N…Nhưng nguyên nhân của sự việc là do khoảng cuối tháng 8/2025 vợ chồng
bà N, ông H1 có mâu thuẫn và bà N cho rằng do bà đã nói xấu bà N với ông H1 và
là người xúi ông H1 đánh đập bà N. Khoảng tháng 10/2025 thì bà N lại nói bà là
tạt axit nên ông H1 có gọi điện thoại chửi bà nên bà mới đi về P để gặp bà N
nhưng bà N không chịu gặp bà để nói chuyện, giải quyết rõ mọi việc nên bà mới
đi đến nhà tìm bà N và xảy ra việc to tiếng nêu trên. Bà đồng ý xin lỗi bà N tại
phiên tòa và do bà N cũng có một phần lỗi nên bà chỉ đồng ý bồi thường tổn thất
về tinh thần do bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín cho bà N bằng 04 lần mức
lương sơ sở do Nhà nước quy định là 9.360.000 đồng.
[3] Từ những
phân tích nêu trên, xét thấy việc bà H có lời nói chưa đúng, to tiếng, chửi tục
bà N là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà N và gây mất trật tự tại nơi
công cộng, mặc dù đã được Công an phường P, tỉnh Khánh Hòa giải quyết, hòa giải
nhưng vẫn tái diễn. Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật dân sự, thì danh dự, nhân
phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Bà N yêu
cầu bà H phải công khai xin lỗi bà tại phiên tòa; bà H đồng ý xin lỗi bà N tại
phiên tòa, các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa
6
thuận trên.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các
đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng
xét xử chấp nhận.
[4] Theo quy
định tại khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự thì “Người chịu trách nhiệm bồi thường
trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi
thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để
bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn
thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối
đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức
lương cơ sở do Nhà nước quy định.”. Các bên đương sự không thỏa thuận được
với nhau về mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần. Căn cứ vào tính chất,
mức độ hành vi xâm phạm của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy, chỉ có căn cứ chấp
nhận một phần yêu cầu bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần của bà N, buộc bà
H bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho bà N bằng 04 lần mức lương cơ sở do
Nhà nước quy định (là 2.340.000 đồng), tương đương với số tiền 9.360.000 đồng
là phù hợp.
[5] Quá
trình giải quyết vụ án bà N khai khi bà H đến nhà chửi bà thì bà có nói bà H là
“con tiểu tam; phá ra cang”; Bà H có ý kiến trình bày về việc bà N chửi
bà là “con đĩ”, “mày đi nhậu mày đéo hết mấy ông bạn ông H1”, “con đĩ tiểu
tam phá ra cang của tao”... Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết sự việc
trên, nếu có yêu cầu bà sẽ khởi kiện bằng vụ án khác nên Hội đồng xét xử không
xem xét.
[6] Xét ý kiến
của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định trên, phù hợp với các
quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[7] Về án
phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, nên bị đơn phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm. Đối với yêu cầu không được chấp nhận nguyên đơn phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là về bồi thường
danh dự nhân phẩm, uy tín và có đơn xin miễn án phí, do đó Hội đồng xét xử căn
cứ điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
Vì các lẽ
trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 6 Điều
26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147,
Điều 229, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật
số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố
tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà
giải, đối thoại tại Toà án vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của
Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.
7
Điều 34,
584, 585, 586, Điều 592, 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Điểm d khoản
1 Điều 12, 15, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Công nhận
sự thỏa thuận của nguyên đơn Lê Thị Tuyết N và bị đơn bà Nguyễn Thị Minh H, sự
thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Bà Nguyễn Thị
Minh H đồng ý công khai xin lỗi bà Lê Thị Tuyết N tại Hội trường phiên tòa xét
xử vụ án và đã thực hiện xong việc xin lỗi bà N. Nội dung xin lỗi là: “Tôi Nguyễn
Thị Minh H đã có những lời nói, hành vi xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín
của bà Lê Thị Tuyết N, nay tôi Nguyễn Thị Minh H xin lỗi bà Lê Thị Tuyết N”.
2. Chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết N buộc bà Nguyễn Thị
Minh H phải bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần trường hợp danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm cho bà Lê Thị Tuyết N số tiền là 9.360.000 đồng (chín triệu
ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản
án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền
chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi
hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên
còn phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Không chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tuyết N buộc bà Nguyễn
Thị Minh H phải bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần trường hợp danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm cho bà Lê Thị Tuyết N số tiền là 9.360.000 đồng (chín
triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
4. Về án
phí:
Bà Nguyễn Thị
Minh H phải chịu 468.000 đồng (bốn trăm sáu mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự
sơ thẩm.
Bà Lê Thị
Tuyết N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản
án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi
hành án dân sự.
Án xử công
khai có mặt nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án (ngày 23/4/2026)./.
8
Nơi nhận:
- TAND tỉnh
Khánh Hòa;
- VKSND khu
vực 5 - Khánh Hòa;
- THADS tỉnh
Khánh Hòa;
- Các đương
sự;
- Lưu hồ sơ,
án văn.
TM. HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN
– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị
Diệu
9
Nơi nhận:
- TAND tỉnh
Khánh Hòa;
- VKSND khu
vực 5 - Khánh Hòa;
- THADS tỉnh
Khánh Hòa;
- Các đương
sự;
- Lưu hồ sơ,
án văn.
TM. HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị
Diệu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét