Dưới đây là
toàn bộ nội dung bản án đã được chuyển đổi và định dạng lại sạch sẽ, chuẩn cấu
trúc văn bản hành chính để bạn dễ dàng sao chép vào Word:
TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Bản án số: 272/2026/DS-PT
- Ngày tuyên án: 14-5-2026
- V/v: Yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN
NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Các Thẩm phán: Ông Lý Thơ Hiền và Ông Trần
Minh Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thê – Thẩm tra viên
TAND tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 14
tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công
khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2026/TLPT-DS ngày 05/02/2026 về việc “Yêu cầu
tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DSST
ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 194/2026/QĐXX-PT ngày 23/3/2026 và Quyết định hoãn phiên
tòa số 264/2026/QĐ-PT ngày 21/4/2026, giữa các đương sự:
1. ĐƯƠNG
SỰ THAM GIA TỐ TỤNG
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P; địa chỉ: Số G,
thôn H, xã C, huyện E (nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn:
Ông Lê Nhật T; địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện K (nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk
(Có mặt).
- Bị đơn: Bà Đồng Thị T1, sinh năm 1959;
địa chỉ: Khối B, thị trấn E, huyện E (nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan:
1.
Ông
Phạm Hải D, sinh năm 1974; địa chỉ: Khối B, thị trấn E, huyện E (nay là xã E),
tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
2.
Văn
phòng C; trụ sở: Số D, Nguyễn Tất T2, thị trấn E, huyện E (nay là xã E), tỉnh Đắk
Lắk (Vắng mặt).
3.
Bà
Nguyễn Thị B, sinh năm 1969 (Có mặt) và ông Nguyễn Viết L (Vắng mặt); địa chỉ:
Thôn F, xã E, huyện K (nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk.
4.
Ông
Nguyễn Trường V, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện K (nay là xã E), tỉnh
Đắk Lắk (Có đơn xin từ chối tham gia tố tụng).
5.
Ngân
hàng Thương mại cổ phần C1. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân T3 – Chức
vụ: Trưởng phòng G - Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 - Chi nhánh Đ1 - Phòng G.
Trụ sở: Thị trấn E, huyện E (nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
6.
Ông
Nguyễn Đức L1, sinh năm 1992 và bà Võ Thị P1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T,
xã C, huyện E (nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk (Đều vắng mặt).
7.
Bà
Nguyễn Thị P2, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện E (nay là xã E), tỉnh
Đắk Lắk (Vắng mặt).
8.
Ông
Vũ Ngọc T4, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A, đường Q, thị trấn E, huyện E (nay là
xã E), tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
9.
Văn
phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh K. Trụ sở: Thị trấn P, huyện K (nay là
xã K), tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị P.
2. NỘI DUNG
VỤ ÁN
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (ông Lê Nhật T) trình bày:
- Vào ngày 26/09/2019, bà Lê Thị P đã ký với ông Phạm Hải D một Hợp đồng ủy quyền giao toàn quyền cho ông D đối với thửa đất số 370, tờ bản đồ số 18, diện tích 400m², tại thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (GCNQSDĐ số CM 258247 do Sở T5 cấp ngày 09/04/2018). Đến ngày 28/09/2019, lô đất này bị xâm hại khi bà B thực hiện các giao dịch "đứng đất giùm" cho ông D, lạm dụng quyền dân sự gây thiệt hại cho bà P. Cụ thể, trong ngày 28/09/2019, bà B ký 3 văn bản: hợp đồng chuyển nhượng mua đất từ ông D (vào buổi chiều); văn bản cam kết tài sản riêng với chồng là ông Nguyễn Viết L; và một "Giấy mua bán đất" viết tay bán ngược lại đất cho ông D (vào buổi sáng).
- Ngày 10/11/2019, ông D cùng một số người ép bà B sang tên lại nhưng bà B từ chối. Ngày 16/04/2020, ông D dùng giấy viết tay khởi kiện bà B nhưng sau đó rút đơn và vụ án được đình chỉ vào ngày 12/06/2020. Ngày 12/09/2020, hai bên dàn xếp ký giấy nhận nợ 700 triệu đồng để ông D trả lại sổ đỏ cho bà B. Ngay sau đó, vợ chồng bà B, ông L thực hiện tẩu tán tài sản bằng cách lập "Hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất" cho con trai là Nguyễn Trường V ngày 25/09/2020. Tuy nhiên, hợp đồng này có dấu hiệu gian lận khi chữ ký không phải của ông V và ông V không có mặt tại phòng công chứng. Tiếp đó, ngày 11/05/2021, bà B lại sắp đặt người giả mạo ông V để ký hợp đồng sang nhượng thửa đất cho bà Đồng Thị T1. Giao dịch này vi phạm Luật Công chứng, không ngay tình và nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Đến ngày 23/12/2021, bà T1 lại đăng tin rao bán lô đất với giá 2,2 tỷ đồng.
Do đó, ngày
19/01/2022, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án:
1.
Buộc
bà Đồng Thị T1 chấm dứt ngay việc rao bán, chuyển dịch tài sản và giữ nguyên hiện
trạng lô đất.
2.
Buộc
bà T1, bà B và người đóng giả ông V phải tường trình trung thực về giao dịch
ngày 11/05/2021 (giá trị thực, người đóng giả là ai, động cơ là gì).
3.
Tuyên
bố vô hiệu các văn bản công chứng: Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D và bà B
ngày 28/09/2019 tại Văn phòng C2; Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông V và bà T1
ngày 11/05/2021 tại Văn phòng C2.
Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hải D trình bày: Hợp đồng ngày 28/09/2019 giữa ông và
bà B tại Văn phòng C3 là hoàn toàn ngay tình, đúng pháp luật nên việc bà P khởi
kiện đòi tuyên vô hiệu là không có căn cứ.
Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày: Việc nhận chuyển nhượng từ ông D
(theo ủy quyền) là hợp pháp, bà đã thanh toán đầy đủ tiền nên không liên quan vụ
án và xin từ chối tham gia tố tụng.
Bị đơn bà
Đồng Thị T1 và người liên quan ông Nguyễn Viết L: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng nhưng không đến Tòa nên không có ý kiến ghi nhận. Ông Nguyễn Trường V
có đơn từ chối tham gia tố tụng.
Ông Nguyễn
Đức L1 và bà Võ Thị P1 trình bày: Ngày 20/05/2022, vợ chồng ông bà mua lại thửa đất số 370 từ
bà Đồng Thị T1. Giao dịch hoàn toàn hợp pháp, không biết bà P là ai và đất
không có tranh chấp tại thời điểm mua, hiện đã được cấp GCNQSDĐ số CV 669942.
Ông bà không đồng ý với các yêu cầu của nguyên đơn.
Ngân hàng
TMCP C1 - Chi nhánh Đ1 - Phòng G trình bày: Ngân hàng nhận thế chấp GCNQSDĐ số CV 669942 của vợ
chồng ông L1, bà P1 ngày 26/10/2020 đúng quy định pháp luật và đề nghị xét xử vắng
mặt.
Văn phòng
Công chứng Nguyễn Thị L2 (nay là Văn phòng C) trình bày: Các thời điểm tiếp nhận công chứng Hợp
đồng ủy quyền (26/09/2019), Hợp đồng chuyển nhượng cho bà B (28/09/2019) và Hợp
đồng chuyển nhượng cho bà T1 (11/05/2021) đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Tại thời điểm công chứng, đất không có tranh chấp hay bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn.
Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện K trình bày: Trình tự, thủ tục đăng ký biến động và xác nhận chuyển
quyền từ ông V sang bà T1 vào ngày 17/05/2021 được thực hiện hoàn toàn đúng thẩm
quyền và quy định pháp luật (theo Nghị định 43/2014/NĐ-CP).
Ông Vũ Ngọc
T4 trình bày: Đầu
tháng 4/2020, ông chỉ làm chứng với tư cách cá nhân khi vợ chồng ông L, bà B nhận
tiền đặt cọc của bà P2 đối với 02 lô đất, ông không giữ tài liệu gì và từ chối
tham gia tố tụng. Người làm chứng bà Nguyễn Thị P2 vắng mặt nên không có ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DSST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P. Ngày 29/05/2026, bà Lê Thị P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án.
Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa nhận định quá trình tố tụng đúng
pháp luật, nội dung kháng cáo của bà P không có căn cứ nên đề nghị giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
3. NHẬN ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN
Sau khi thẩm
tra các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà P trong hạn luật định và nộp đủ án phí nên hợp lệ. Các
đương sự vắng mặt lần thứ hai không vì lý do bất khả kháng, Tòa án tiến hành
xét xử vắng mặt theo Điều 296 BLTTDS. Về yêu cầu giám định chữ ký ông Nguyễn
Trường V của ông Lê Nhật T: Trong suốt giai đoạn sơ thẩm (2022–2025) nguyên đơn
không yêu cầu, các bên tham gia giao dịch cũng không có đơn đề nghị, việc ký kết
tại Văn phòng công chứng đã được xác nhận nên Hội đồng xét xử thấy không cần
thiết chấp nhận yêu cầu này.
[2]. Xét nội
dung kháng cáo:
- Về hợp đồng chuyển nhượng giữa
ông D và bà B (28/09/2019): Hợp đồng ủy quyền ngày 26/09/2019 thể hiện rõ bà P cho
ông D "toàn quyền chuyển nhượng". Việc ông D ký chuyển nhượng
cho bà B là đúng phạm vi ủy quyền và đúng luật. Nguyên đơn cho rằng các
giao dịch lừa dối, giả tạo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Do
đó, cấp sơ thẩm bác bỏ yêu cầu này là có căn cứ.
- Về hợp đồng chuyển nhượng giữa
ông V và bà T1 (11/05/2021): Ngày 25/09/2020, vợ chồng bà B, ông L ký hợp đồng tặng
cho đất cho con trai là ông V đúng quy định, ông V được cấp GCNQSDĐ hợp
pháp ngày 26/10/2020. Việc ông V tiếp tục chuyển nhượng cho bà T1 và được
đăng ký biến động ngày 17/05/2021 là đúng trình tự. Cấp sơ thẩm tuyên
không chấp nhận yêu cầu vô hiệu là có căn cứ.
- Về các file ghi âm, ghi hình (05
đĩa DVD) do nguyên đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm: Nội dung không thể hiện rõ
ràng, đầy đủ việc các giao dịch bị giả tạo nên không có cơ sở chấp nhận.
Từ những nhận
định trên, Hội đồng xét xử quyết định bác kháng cáo của bà Lê Thị P, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
4. QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản
1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 117, Điều 158, Điều 500, Điều 501, Điều
502, Điều 503 Bộ luật Dân sự; Điều 5 Luật Công chứng; và Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P về các nội dung:
- Buộc bà Đồng Thị T1 chấm dứt
ngay việc rao bán đất, không được dịch chuyển quyền về tài sản, không được
thay đổi hiện trạng lô đất số 370, tờ bản đồ số 18 tại thôn A, xã E, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk.
- Buộc bà Đồng Thị T1, bà Nguyễn
Thị B, và người đóng giả ông Nguyễn Trường V phải tường trình về quá trình
mua bán ngày 11/05/2021.
- Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng sang
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D và bà B chứng thực tại Văn phòng C2
vào chiều ngày 28/09/2019.
- Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng sang
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V và bà T1 chứng thực tại Văn phòng C2
vào ngày 11/05/2021.
2. Về chi
phí tố tụng: Bà Lê Thị P phải chịu 3.400.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm
ứng chi phí tố tụng đã nộp.
3. Về án
phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị P phải chịu 600.000 đồng,
được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu số 60AA/2021/0005809
ngày 24/01/2022 tại Chi cục THADS huyện E (nay là Phòng THADS khu vực 7 –
Đắk Lắk).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị P phải chịu 300.000 đồng,
được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp thay bởi bà Đoan Thị Đ
theo biên lai số 0003769 ngày 30/10/2025 tại THADS tỉnh Đắk Lắk.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm
không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc
thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 7 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 7 – Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG
XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký)
Nguyễn Thị
Nhung
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét