Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn FLC, là cổ đông sáng lập và giữ chức Chủ tịch HĐQT Công ty BỌS từ ngày 11/01/2011 đến ngày 20/8/2013. Quá trình hoạt động, Trịnh Văn Quyết đã cử Hương Trần Kiều Dung (Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT tập đoàn FLC, đồng thời giữ chức vụ tại 05 công ty thuộc tập đoàn FLC) làm chủ tịch HĐQT, đại diện theo pháp luật Công ty BOS; Chu Tiên Vượng (bạn của Quyết) là Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT; Lê Bá Nguyên (anh vợ Quyết) và Nguyễn Quỳnh Nga (Nhân viên công ty thuộc hệ sinh thái Tập đoàn FLC) làm Thành viên HĐQT; Trịnh Thị Thúy Nga (em gái Quyết) làm Phó Chủ tịch HĐQT, Phó Tổng Giám đốc Công ty BOS để quản lý, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của Công ty BOS theo chỉ đạo của Trịnh Văn Quyết, trong đó có hoạt động cấp hạn mức sức mua (bằng hình thức cấp khống tiền) cho các tài khoản chứng khoán mở tại Công ty BOS để Trịnh Văn Quyết thao túng thị trường chứng khoán, thu lợi bất chính. Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư 203/2015/TT-BTC ngày 21/12/2015, quy định về giao dịch và thanh toán giao dịch chứng khoán; Khoản 6 Điều 16 Thông tư 121/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính quy định “Công ty chứng khoán khi thực hiện thanh toán lệnh mua hoặc bán chứng khoán cho khách hàng phải đảm bảo đủ tiền, chứng khoán theo quy định..."; Thông tư 210/TT-BTC ngày 31/11/2012 của Bộ Tài chính, hướng dẫn về thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán: Điều 43 quy định về hạn chế cho vay: 1. Công ty chúng khoán không được cho vay tiền và chứng khoán dưới mọi hình thức, trừ trường hợp công ty chứng khoán cho khách hàng vay tiền để mua chứng khoán theo quy định về giao dịch ký quỹ chứng khoán của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, vì muốn thu lời bất chính trên sàn chứng khoán, Trịnh Văn Quyết đã chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế liên hệ với 45 cá nhân, có quan hệ họ hàng với gia đình, người thân ký giầy tờ, thủ tục để Huế thành lập 20 công ty và mở 500 tài khoản chứng khoán đứng tên 20 công ty và 45 cá nhân (141 tài khoản chứng khoán tại Công ty BOS) để Huế sử dụng các tài khoản này thực hiện các hành vi: (liên tục mua bán cùng loại chứng khoán; (2)mua bán khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu); (3)mua bán với khối lượng lớn, chi phối thị trường vào thời điểm mở của đóng cửa; (4 đặt lệnh mua/bán sau đó hủy lệnh... nhằm tạo ra cung cầu giả tạo, thao túng thị trường chứng khoán đối với 5 mã cổ phiếu AMD, HAI, GAB, FLC, ART, thu lợi bất chính 723.322.534.069 đồng, cụ thể: cổ phiếu AMD trong giai đoạn từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017, thu lợi bất chính 39.075.817.133 dồng; cổ phiếu HAI trong giai đoạn từ ngày 26/6/2017 đến ngày 09/02/2018, thu lợi bất chính 238.885.676.049 đồng; cổ phiếu GAB trong giai đoạn từ ngày 19/12/2019 đến ngày 27/11/2020, thu lợi bất chính 3.437.787.029 đồng; cổ phiếu FLC trong giai đoạn từ ngày 23/9/2020 đến ngày 10/01/2022, thu lợi bất chính 397.338.681.335 đồng; cổ phiếu ART trong giai đoạn từ ngày 02/01/2021 đến ngày 11/6/2021, thulợi bất chính 44.584.572.523 đồng. Trong đó, riêng mã chứng khoán AMD thực hiện hành vi thao túng trong giai đoạn từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017 thu lợi bất chính 39.075.817.133 đồng, trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã đề nghị Ủy ban Chứng khoán nhà nước 60 o (UBCKNN) xử lý theo quy định tại Điều 29 Nghị định 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc Trịnh Văn Quyết và Trịnh Thị Minh Huế nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm. Như vậy, số tiền Trịnh Văn Quyết đã thu lợi bất chính của 4 mã chứng khoán HAI, GAB, ART và FLC là 684.256.716.936 đồng. Để thực hiện thao túng các mã cổ phiếu trên, đầu giờ giao dịch hàng ngày, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế để Huế chỉ đạo Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản do Quyết, Huế chỉ định. Cụ thể: Đầu giờ giao dịch hàng ngày, Trịnh Thị Minh Huế gọi điện, nhắn tin cho Trịnh Thị Thúy Nga thông báo các số tài khoản thiếu tiền, cần được cấp hạn mức để đặt lệnh mua chứng khoán theo chỉ đạo của Quyết; Trịnh Thị Thúy Nga tiếp tục chỉ đạo lãnh đạo Phòng Dịch vụ chứng khoán, gồm: Nguyễn Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Thu Thơm và Bùi Ngọc Tử cấp hạn mức mua khống cho các tài khoản đang thiếu tiền của Huế bằng cách đăng nhập vào phần mềm quản trị “BOS Floor Trading" theo User mang tên "Nguyễn Thị Thanh Phương - Phuongntt"; "Nguyễn Thị Thu Thơm - Thomntt"; "Bùi Ngọc Tú - Tubn" do Triệu Xã Luận, Trưởng Phòng Công nghệ thông tin Công ty BOS cấp phân quyền truy cập để chọn thư mục “Cấp hạn mức khách hàng”", tìm số tài khoản giao dịch chứng khoán do Trịnh Thị Thúy Nga cung cấp và đánh máy điền số tiền tương ứng theo yêu cầu của Nga vào các tài khoản này, sau đó truy cập vào phần mềm “VGAIA” nhấn “"Duyệt ” thì trên tài khoản chứng khoán do Trịnh Thi Minh Huế sử dụng sẽ hiển thị đủ tiền để đặt lệnh mua cổ phiếu theo chỉ đạo của Trịnh Văn Quyêt. Kết quả điều tra xác định: Từ ngày 26/5/2017 đến ngày 10/01/2022, Trịnh Thị Thúy Nga đã chỉ đạo Nguyễn Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Thu Thơm và Bùi Ngọc Tú thực hiện 1.568 lần cấp khống tiền cho 79/141 tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng, với tổng giá trị là 170.598.050.000.000 đồng để Huế đặt 15.128 lệnh mua 2.850.120.160 cổ phiếu của 05 mã chứng khoán, gồm: AMD, HAI, GAB, ART, FLC với tổng giá trị 46.980.907.744.300 đồng; trong đó đã khớp lệnh mua 463.375.070 cổ phiếu, với tổng giá trị là 11.855.067.296.900 đồng; còn thiếu 11.651.608.017.410 đồng. Để hợp thức cho số tiền thiếu là 11.651.608.017.410 đồng trong 228 ngày giao dịch nêu trên, Trần Thị Lan và Quách Thị Xuân Thu (đều là Kể toán trưởng Công ty BOS qua các thời kỷ) ký 300 Ủy nhiệm chi với tổng số tiền 24.635.920.000.000 đồng trình Trịnh Thị Thúy Nga, Phó Tổng Giám đốc hoặc Nguyễn Quỳnh Anh, Tổng Giám đốc Công ty BOS ký chuyển tiền vào tài khoản của Công ty BOS mở tại BIDV Chỉ nhánh Hà Thành để Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam thanh toán bù trừ cho các tài khoản chứng khoán của các khách hàng giao dịch tại Công ty BOS, trong đó có 9.903.927.029.786 đồng/11.651.608.017.410 đồng của các lần khớp lệnh mua thiếu tiển cho 75/141 tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Đối với số tiền Trịnh Thị Minh Huế mua chứng khoán thiếu nêu trên được Nguyễn Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Thu Thơm và Bùi Ngọc Tú tổng hợp chuyển cho Trần Thị Lan, Quách Thị Xuân Thu tập hợp, sau đó đăng thông tin trên ứng dụng Viber của nhóm "BOS - Phòng kế toán và DVKH” do Trịnh Thị Thúy Nga lập ngày 02/01/2020, gồm: Trịnh Thị Thúy Nga, Trưởng nhóm; Hương Trần Kiều Dung, Chủ tịch HĐQT; Chu Tiến Vượng, Phó Chủ tịch HĐQT; Nguyễn Quỳnh Anh, 61 Tổng Giám đốc; Trần Thị Lan, Quách Thị Xuân Thu, Nguyễn Thị Thanh Phương, Bùi Ngọc Tú và Nguyễn Thị Thanh Thanh, Trưởng phòng Quản trị rủi ro để cùng theo dõi, quản lý. Trong thời gian diễn ra sai phạm trên, ngày 31/10/2019, Công ty BOS đã bị UBCKNN ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 873/QĐ-XPVPHC, xử phạt số tiền 125 triệu đồng về hành vi cho khách hàng mua chứng khoán khi không có đủ tiền theo quy định nhưng hành vi sai phạm này vẫn tiếp diễn với số tiền cấp khống lớn hơn. Do lo sợ vi phạm pháp luật và gây rủi ro cho Công ty BOS trong trường hợp không thu được tiền của những tài khoản cấp khống tiền, Nguyễn Thị Thanh Thanh đã báo cáo, soạn thảo để Nguyễn Quỳnh Anh, Tổng Giám đốc Công ty BOS đã ký Báo cáo số 01/2020/BC-TGĐ ngày 20/01/2020 (Báo cáo số 01) đề xuất "HĐQT cử thành viên HĐQT được phê duyệt hạn mức cho vay đối với những khách hàng có phát sinh giao dịch chậm tiền từ 20 tỷ đồng trở lên và/hoặc phê duyệt hạn mức giao dịch hằng ngày từ 20 tỷ đồng trở lên” và Báo cáo số 02/2020/BC-TGĐ ngày 28/4/2020 (Báo cáo số 02) đề xuất HĐQT “chịu trách nhiệm phê duyệt giải ngân cho vay giao dịch chứng khoán đối với danh sách tài khoản nêu trên và/hoặc giải ngân cho vay đối với các tài khoản phát sinh từ việc cấp hạn mức trên 10 tỷ đồng”. Căn cứ đề xuất trên, HĐQT (Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Thị Thúy Nga, Lê Bá Nguyên, Tống Hải Ninh và Nguyễn Quỳnh Nga) ký Biên bản họp HĐQT sỐ 01 ngày 20/01/2020 (Biên bản số 01) và HĐQT (Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Thị Thúy Nga, Lê Bá Nguyên và Nguyễn Quỳnh Nga) ký Biên bản họp HĐQT số 10 ngày 28/4/2020, đồng ý theo đề xuất của Nguyễn Quỳnh Anh. Từ đó, Chu Tiến Vượng, Chánh Văn phò5ng HĐQT ký tắt trrong Nghị quyết, trình Hương Trần Kiều Dung thay mặt HĐQT ký ban hành Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐQT-BOS ngày 20/01/2020 (Nghị quyết số 01) và Hương Trần Kiều Dung, thay mặt HĐQT ký Nghị quyết số 10/2020/NQ-HĐQT-BOS (Nghị quyết số 10) tiếp tục ủy quyền cho Trịnh Thị Thúy Nga được cho khách hàng mua chứng khoán hàng ngày với số tiền trên 10 tỷ đồng. Việc HĐQT họp và thống nhất ban hành nghị quyết ủy quyền cho Trịnh Thị Thúy Nga được cho khách hàng mua chứng khoán hàng ngày với số tiền trên 10 tỷ đồng cho mỗi tài khoản chứng khoán không có tài sản đảm bảo là trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế thao túng thị trường chứng khoán, thu lời bất chính với số tiền đặc biệt lớn. Trong khoảng thời gian Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản để Trịnh Thị Minh Huế thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán, Chu Tiến Vượng đã đại diện HĐQT, cùng với Nguyễn Quỳnh Anh, đại diện Ban Tổng Giám đốc; Nguyễn Thị Thanh Phương, đại diện Phòng dịch vụ chứng khoán; Quách Thị Xuân Thu và Trần Thị Lan, đại diện Phòng Kế toán; Nguyễn Thị Thanh Thanh, đại diện phòng rủi ro và Triệu Xã Luận, đại diện Phòng Công nghệ thông tin làm việc với Đoàn kiểm tra của UBCKNN về vi phạm của Công ty BOS, đặc biệt là những vi phạm liên tiếp tái diễn cho khách hàng mua chứng khoán khi không có đủ tiền. Kết thúc cuộc kiểm tra, Chu Tiến Vượng đã đại diện Công ty BOS ký biên bản kết luận của đoàn kiểm tra về sai phạm nêu trên. Đoàn kiểm tra đã yêu cầu chấm dứt sai phạm nhưng Chu Tiến Vượng, các bị can và các cá nhân liên quan vẫn tiếp tục đồng ý để Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga thực hiện hành vi trái pháp luật này kéo dài đến khi bị Cơ quan điều tra khởi tố, điều tra. 62 ANH Hành vi của nhóm Trịnh Văn Quyết đã được Kết luận giám định của UBCKNN ngày 12/12/2022, xác định: vi phạm khoản 4 Điều 9 Luật chứng khoán năm 2006 “Thông đồng để thực hiện việc mua, bản chúng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;... "; khoản 3 Điều 12 Luật chứng khoán năm 2019 “Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;.. "; khoản 2 Điều 70 Nghị định 58/2012/NĐCP và điểm a, c khoản 2 Điều 3 Nghị định 156/2020/NĐCP của Chính phủ “a. Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác... liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; b. Một người hay một nhóm người thông đồng... với nhau giao dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo; c. Liên tục mua hoặc bán chúng khoán với khổi lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng của thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng của hoặc giá mở của mới cho loại chúng khoán đó trên thị trường;...) và điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định 156/2020/NĐCP của Chính phủ “Đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch... mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyễn giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chúng khoán, cung cầu giả tạo”, thu lời bất chính tổng số tiền 723.322.534.069 đồng. Tất cả các hành vi đó đều là hành vi vi phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 211 BLHS. Về khoản thu lợi trái pháp luật của Công ty BOS: Tổng số tiền Công ty BOS thu từ hành vi trái quy định pháp luật (cấp hạn mức sức mua cho các tài khoản chứng khoán, thanh toán thay cho Trịnh Thị Minh Huế mua chứng khoán thiếu tiền) là 46.195.956.716 đồng (gồm: phí giao dịch của các lệnh khớp mua thiếu tiền: 17.616.439.990 đồng và phí quản lý: 28.579.516.726 đồng). Công ty BOS đã nộp phí cho Sở giao dịch chứng khoán là 3.521.857.150 đồng, còn lại thu lợi là 42.674.099.566 đồng; trong đó: mã AMD là 202.577.903 đồng; mã HAI là 411.585.227 đồng; mã GAB là 37.011.979.501 đồng; mã FLC là 5.030.027.111 đồng; mã ART là 17.929.824 đồng. - Về số tiền thu lợi bất chính: Trong các giai đoạn thao túng thị trường chứng khoán, từ ngày 26/5/2017 đến ngày 10/01/2022, Trịnh Thị Minh Huế sử dụng 190/500 tài khoản chứng khoán mở tại 18/43 Công ty chứng khoán và 83/107 tài khoản ngân hàng (đứng tên 42 cá nhân, đại diện pháp nhân) để thao túng 5 mã cổ phiếu AMD, HAI, GAB, FLC, ART, trong 562 phiên giao dịch; đặt 27.230 lệnh mua 5.705.577.000 cổ phiếu, khớp mua 1.299.665.090 cổ phiếu với giá trị 15.131.146.801.500 đồng. Trong đó, chủ động hủy 5.019 lệnh đặt mua 1.621.095.230 cổ phiếu; đặt 11.978 lệnh bán 1.477.410.730 cổ phiếu, đã khớp bán 1.343.026.290 cổ phiếu với giá trị 17.002.612.938.600 đồng và chủ động hủy 942 lệnh bán 84.315.890 cổ phiếu để Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính 723.322.534.069 đồng (trong đó, mã AMD trong giai đoạn từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017, thu lợi bất chính 39.075.817.133 đồng; mã HAI trong giai đoạn từ ngày 26/6/2017 đến ngày 09/02/2018, thu lợi bất chính 238.885.676.049 đồng; mã GAB trong giai đoạn từ ngày 19/12/2019 đến ngày 27/11/2020, thu lợi bất chính 3.437.787.029 đồng; mã FLC trong giai đoạn từ ngày 23/9/2020 đến ngày 10/01/2022, thu lợi bất chính 397.338.681.335 đồng; mã ART trong giai đoạn từ 63 ngày 02/01/2021 đến ngày 11/6/2021, thu lợi bất chính 44.584.572.523 đồng). Cụ thể như sau: (1) Đối với mã chứng khoán AMD: Từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017, giá cổ phiếu AMD tăng từ 13.750 đồng/cổ phiếu tại ngày 26/5/2017 lên 23.450 đồng/cổ phiếu tại ngày 07/6/2017 tương đương với mức tăng 70,54% và giá cổ phiếu AMD tại ngày 13/7/2017 là 10.000 đồng/cổ phiếu. Trong giai đoạn thao túng mã cổ phiếu AMD, Trịnh Thị Minh Huế sử dụng 18/500 tài khoản tham gia 31/35 phiên giao dịch cổ phiếu AMD, cụ thể: a) Đối với giao dịch khớp lệnh thông thường của Nhóm 18 tài khoản trị - Đặt mua 122.243.210 cổ phiếu AMD chiếm 46,34% khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 20.270.380 cổ phiếu AMD với tổng giá 319.870.896.500 đồng, chiếm 16,28% khối lượng khớp mua toàn thị trường; đặt bán 37.913.350 cổ phiếu AMD chiếm 17,73% khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 36.028.790 cổ phiếu AMD với tổng giá trị 602.776.072.800 đồng, chiếm 28,93% khối lượng khớp bán toàn thị trường. Trong đó, có 22/31 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường; 7/31 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường; có 9/31 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường; 9/31 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường. - Khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu) trong 13/31 phiên với 133 giao dịch, tổng khối lượng khớp đối ứng là 2.675.170 cổ phiếu AMD chiếm 2,15 % khối lượng khớp lệnh toàn thị trường, giá trị khớp đối ứng là 42.313.888.000 đồng. - Nhóm tài khoản hủy mua 56.512.860 cổ phiếu AMD chiếm 68,65% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; huỷ bán 1.666.130 cổ phiếu chiếm 3,05% khối lượng huỷ bán toàn thị trường. Trong đó, 19 phiên có tỷ lệ huỷ mua chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; 1 phiên có tỷ lệ hủy bán chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng hủy bán toàn thị trường. - Trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa: Nhóm 18 tài khoản tham gia đặt lệnh mua trong 6/31 phiên với tổng khối lượng 3.796.060 cổ phiếu AMD chiếm 53,19% khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 130.410 cổ phiếu AMD chiếm 7,02% khối lượng khớp mua toàn thị trường; tham gia đặt lệnh bán 7/31 phiên với tổng khối lượng 427.380 cổ phiếu AMD chiếm 3,71% khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 361.750 cổ phiếu AMD chiếm 14,89% khối lượng khớp bán toàn thị trường. Trong đó, có 5 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường; 2 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường; có 5 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường; 5 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường. b) Đối với giao dịch khớp lệnh thỏa thuận của Nhóm 18 tài khoản - Nhóm 18 tài khoản khớp mua thỏa thuận với tổng khối lượng 6.140.000 cổ phiếu AMD trị giá 110.520.000.000 đồng, khớp bán thỏa thuận 200.000 cổ phiếu AMD trị giá 4.380.000.000 đồng.
Thu lợi bất chính: Từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế cùng đồng phạm thực hiện hành vi thao túng đối với cổ phiếu AMD thu lợi bất chính 39.075.817.133 đồng. (2) Đối với mã chứng khoán HAI: Từ ngày 26/6/2017 đến ngày 09/02/2018, giá cổ phiếu HAI tăng từ 3.780 đồng/cổ phiếu tại ngày 26/6/2017 lên 22.500 đồng/cổ phiếu tại ngày 08/08/2017, tương đương với mức tăng 459,2%; tại ngày 09/02/2018 giá cổ phiếu HAI là 4.610 đồng/cổ phiếu. Trong giai đoạn thao túng đối với mã chứng khoán HAI, Trịnh Thị Minh Huế sử dụng 69/500 tài khoản tham gia 156/161 phiên giao dịch cổ phiếu HAI, cụ thể như sau:
a) Đối với giao dịch khớp lệnh thông thường của Nhóm 69 tài khoản - Đặt mua 906.179.630 cổ phiếu HAI chiếm 48,91% so với khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 216.195.720 cổ phiếu HAI với tổng giá trị 2.162.977.538.700 đồng, chiếm 28,39% khối lượng khớp mua toàn thị trường; đặt bán 267.412.830 cổ phiếu HAI chiếm 19,16% so với khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 238.710.250 cổ phiếu HAI với tổng giá trị 2.445.868.588.700 đồng, chiếm 8,12% khối lượng khớp bán toàn thị trường; Trong đó, có 78/156 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường; 49/156 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường; có 44/156 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường; 68/156 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường.
- Khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu) trong! 64/156 phiên với 1.112 giao dịch, tổng khối lượng khớp đối ứng là 54.348.560 cổ. phiếu HAI chiếm 7,14 % khối lượng khớp lệnh toàn thị trường, giá trị khớp đối ứng là 617.107.804.300 đồng.
- Nhóm tài khoản huỷ mua 239.283.200 cổ phiếu chiếm 52,15% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; huỷ bán 26.577.940 cổ phiếu chiếm 8,12% khối lượng huỷ bán toàn thị trường. Trong đó, 59 phiên có tỷ lệ huỷ mua chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; 10 phiên có tỷ lệ hủy bán chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng hủy bán toàn thị trường.
- Trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa: Nhóm 69 tài khoản tham gia đặt lệnh mua trong 113/156 phiên với tổng khối lượng 45.620.670 cổ phiếu HẠI chiếm 56,23% khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 2.923.980 cổ phiếu HAI chiếm 23,07% khối lượng khớp mua toàn thị trường; Nhóm tài khoản tham gia đặt lệnh bán trong 31/156 phiên với tổng khối lượng 2.467.720 cổ phiếu HAI chiểm 3,15% khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 1.597.860 cổ phiếu HAI chiếm 7,10% khối lượng khớp bán toàn thị trường. Trong đó, có 36 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường; 15 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khổi lượng khớp toàn thị trường; có 13 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường; 13 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường.
b) Đối với giao dịch khớp lệnh thỏa thuận của Nhóm 69 tài khoản
- Nhóm 49 tài khoản khớp mua thỏa thuận với tổng khối lượng 14.208.150 cổ phiếu HAI trị giá 167.985.642.500 đồng, khớp bán thỏa thuận 19.078.150 cổ phiếu HAI trị giá 247.619.642.500 đồng.
- Khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu) trong 5 phiên với 14 giao dịch, tổng khối lượng khớp nội nhóm là 14.208.150 cổ phiếu HAI giá trị khớp nội nhóm là 167.985.642.500 đồng.
Thu lợi bất chính: Từ ngày 26/6/2017 đến ngày 09/02/2018, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế cùng đồng phạm thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán đối với cổ phiếu HAI thu lợi bất chính 238.885.676.049 đồng.
(3) Đối với mã chứng khoán GAB: Từ ngày 19/12/2019 đến ngày 27/11/2020, giá cổ phiếu GAB tăng từ 10.900 đồng/cổ phiếu tại ngày 19/12/2019 lên 193.600 đồng/cổ phiếu tại ngày 27/11/2020, tương đương với mức tăng 1.776%. Trong giai đoạn thao túng mã cổ phiếu GAB, Trịnh Thị Minh Huế sử dụng 81/500 tài khoản tham gia 236/237 phiên giao dịch cổ phiếu GAB (có 07 tài khoản chỉ tham gia giao dịch thỏa thuận), cụ thể như sau:
a) Đối với giao dịch khớp lệnh thông thường của Nhóm 81 tài khoản
- Đặt mua 84.472.120 cổ phiếu GAB chiếm 59,17% so với khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 18.994.100 cổ phiếu GAB với tổng giá trị 2.700.901.059.000 đồng, chiếm 66,07% khối lượng khớp mua toàn thị trường; đặt bán 22.816.720 cổ phiểu GAB chiếm 55,01% so với khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 15.493.180 cổ phiếu GAB với tổng giá trị 2.351.655.892.500 đồng, chiếm 53,89% khối lượng khớp bán toàn thị trường. Trong đó, có 200/236 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường (124/200 phiên cổ phiếu GAB tăng giá), 203/236 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường (115/203 phiên cổ phiếu GAB tăng giá); có 197/236 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường (118/197 phiên cổ phiếu GAB tăng giá); 193/236 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường (113/193 phiến cổ phiếu GAB tăng giá).
- Khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu) trong 158/236 phiền với 6.067 giao dịch, tổng khối lượng khớp đối ứng là 9.861.560 cổ phiếu GAB chiếm 34,30 % khối lượng khớp lệnh toàn thị trường, giá trị khớp đối ứng là 1.724.194.934.500 đồng.
- Nhóm tài khoản huỷ mua 16.520.650 cổ phiếu GAB chiếm 62,94% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; huỷ bán 1.808.950 cổ phiếu chiếm 31,99% khối lượng huỷ bán toàn thị trường. Trong đó, 101 phiên có tỷ lệ huỷ mua chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; 105 phiên có tỷ lệ hủy bán chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng hủy bán toàn thị trường.
- Trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa: Nhóm 81 tài khoản tham gia đặt lệnh mua trong 58/236 phiên với tổng khối lượng 3.281.900 cổ phiếu GAB chiếm 69,62% khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 610.170 cổ phiếu GAB chiếm 29,79% khối lượng khớp mua toàn thị trường; Nhóm 81 tài khoản tham gia đặt lệnh bán trong 48/236 phiên với tổng khối lượng 405.790 cổ phiếu chiếm 16,30% tổng khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 163.600 cổ phiếu GAB chiếm 7,99% khối lượng khớp bán toàn thị trường., 66 Trong đó, có 55/58 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường; 23/58 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường; có 32/48 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường; 18/48 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường.
b) Đối với giao dịch khớp lệnh thỏa thuận của Nhóm 81 tài khoản
- Nhóm 81 tài khoản khớp mua thỏa thuận với tổng khối lượng 49.844.340 cổ phiếu GAB trị giá 6.614.125.397.000 đồng, khớp bán thỏa thuận 45.534.960 cổ phiếu GAB trị giá 6.222.586.418.000 đồng.
- Khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu) 44.224.960 cổ phiếu GAB với giá trị là 6.061.431.418.000 đồng. Thu lợi bất chính: Từ ngày 19/12/2019 đến ngày 27/11/2020, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế cùng đồng phạm thực hiện hành vi thao túng đối với cổ phiếu GAB thu lợi bất chính 3.437.787.029 đồng.
(4) Đối với mã chứng khoán ART: Từ ngày 02/01/2021 đến ngày 11/6/2021, giá cổ phiếu ART tăng từ 3.300 đồng/cổ phiếu lên 10.300 đồng/cổ phiếu tương đương với mức tăng 330%. Trong giai đoạn thao túng mã cổ phiếu ART, Trịnh Thị Minh Huế sử dụng 36/500 tài khoản tham gia 58/107 phiên giao dịch cổ phiếu ART, cụ thể như sau:
a) Đối với giao dịch khớp lệnh thông thường của Nhóm 36 tài khoản tri - Đặt mua 366.908.900 cổ phiếu ART chiếm 24,75% so với khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 81.720.200 cổ phiếu ART với tổng giá 798.437.680.000 đồng, chiếm 11,09% khối lượng khớp mua toàn thị trường; đặt bán 84.183.900 cổ phiếu ART chiếm 6,39% so với khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 81.229.200 cổ phiếu ART với tổng giá trị 841.647.640.000 đồng, chiếm 11,02% khối lượng khớp bán toàn thị trường; Trong đó, có 36/58 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường; 16/58 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường; có 08/58 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường; 12/58 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường.
- Nhóm tài khoản huỷ mua 56.077.700 cổ phiếu chiếm 17,32% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; huỷ bán 3.154.700 cổ phiếu chiếm 1,18% khối lượng huỷ bán toàn thị trường. Trong đó, 21/58 phiên có tỷ lệ huỷ mua chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; 2/58 phiên có tỷ lệ hủy bán chiếm tỷ lệ trên 25% khối lượng hủy bán toàn thị trường.
- Trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa: Nhóm 36 tài khoản tham gia đặt lệnh mua trong 23/58 phiên với tổng khối lượng 27.101.300 cổ phiếu ART chiếm 50,85% khối lượng đặt mua toàn thị trường, khớp mua 4.436.700 cổ phiếu ART chiếm 26,71% khối lượng khớp mua toàn thị trường; Nhóm 36 tài khoản tham gia đặt lệnh bán trong 4/58 phiên với tổng khối lượng 399.200 cổ phiếu ART chiếm 1,05% khối lượng đặt bán toàn thị trường, khớp bán 399.200 cổ phiếu ART chiếm 1,76% khối lượng khớp bán toàn thị trường. Trong đó, có 20 phiên có tỷ trọng đặt mua chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường; 9 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường; có 4 phiên có tỷ trọng đặt bán chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường; 4 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường.
b) Đối với giao dịch khớp lệnh thoả thuận của Nhóm 36 tài khoản Trong giai đoạn từ ngày 02/01/2021 đến ngày 11/6/2021, Nhóm 36 tài khoản không phát sinh giao dịch thoả thuận. Thu lợi bất chính: Từ ngày 02/01/2021 đến ngày 11/6/2021, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế cùng đồng phạm thực hiện hành vi thao túng đối với mã cổ phiếu GAB thu lợi bất chính 44.584.572.523 đồng.
(5) Đối với mã chứng khoán FLC: Từ ngày 23/09/2020 đến ngày 10/01/2022, giá cổ phiếu FLC tăng từ 3.050 đồng/cổ phiếu tại ngày 23/9/2020 lên 21.150 đồng/cổ phiếu tại ngày 10/01/2022, tương đương với mức tăng 593,4%. Riêng phiên giao dịch ngày 10/01/2022, giá cổ phiếu FLC biến động mạnh: tăng trần lên 24.100 đồng/cổ phiếu (tương đương với mức tăng 690,2% so với giá đóng cửa ngày 23/9/2020) sau đó giảm sàn về mức 21.000 đồng (giảm 12,9% so với mức giá cao nhất) và đóng cửa ở mức 21.150 đồng/cổ phiếu. Giá trung bình phiên giao dịch ngày 10/01/2022 là 22.586 đồng/cổ phiếu. Trong phiên giao dịch này, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế đã bán “chui” (không báo cáo về việc dự kiến giao dịch) 74.800.0000 cổ phiếu FLC với tổng giá trị khớp lệnh là 1.689.422.165.000 đồng. UBCKNN phát hiện hành vi vi phạm của Trịnh Văn Quyết, ban hành văn bản số 198/UBCK-TT ngày 11/01/2022 chi đạo Sở Giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh ra quyết định hủy bỏ giao dịch bán 74.800.000 cổ phiếu FLC ngày 10/01/2022 của Trịnh Văn Quyết, kịp thời ngăn chặn không để hậu quả xảy ra. Tuy nhiên, giao dịch của Trịnh Văn Quyết đã ảnh hưởng đến diễn biến giá cổ phiếu FLC trong ngày 10/01/2022 cũng như thời gian tiếp theo. Trong giai đoạn thao túng mã chứng khoán FLC từ ngày 23/9/2020 đến 10/01/2022, Trịnh Thị Minh Huế sử dụng 96/500 tài khoản tham gia 283/327 phiên giao dịch cổ phiếu FLC, cụ thể: a) Đối với giao dịch khớp lệnh thông thường của Nhóm 96 tài khoản - Đặt mua 4.225.773.140 cổ phiếu FLC (chiếm 26,12% khối lượng đặt mua toàn thị trường). Trong đó, có 112/283 phiên tổng khối lượng đặt mua của nhóm chiếm trên 25% khối lượng đặt mua toàn thị trường (84/112 phiên cổ phiếu FLC tăng giá).
- Khớp mua 964.958.140 cổ phiếu FLC với tổng giá trị 9.148.959.627.300 đồng (chiếm 12,54% tổng khối lượng khớp mua toàn thị trường). Trong đó, có 47/283 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường (39/47 phiên cổ phiếu FLC tăng giá). - Đặt bán 1.065.083.930 cổ phiếu FLC (chiếm 7,10% khối lượng đặt bán toàn thị trường). Trong đó, có 17/283 phiên tỷ lệ đặt bán của nhóm chiếm trên 25% khối lượng đặt bán toàn thị trường (02/17 phiên cổ phiếu FLC tăng giá); - Khớp bán 985.249.100 cổ phiếu FLC với tổng giá trị 9.071.242.579.600 đồng (chiếm 12,80% khối lượng khớp bán toàn thị trường). Trong đó, có 49/283 68 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường (11/49 phiên cổ phiếu FLC tăng giá). - Khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu) trong 23/283 phiên tham gia giao dịch, tổng khối lượng khớp đối ứng là 32.233.800 cổ phiếu chiếm 0,42% khối lượng khớp toàn thị trường, giá trị khớp đối ứng 189.397.833.500 đồng. là - Nhóm tài khoản huỷ mua 1.250.227.370 cổ phiếu FLC chiếm 25,19% khối lượng huỷ mua toàn thị trường. Trong đó, 94 phiên tỷ lệ huỷ mua chiếm trên 25% khối lượng huỷ mua toàn thị trường; - Huỷ bán 37.423.940 cổ phiếu FLC chiếm 0,83% khối lượng huỷ bán toàn thị trường. Trong đó, có 01 phiên hủy bán chiếm trên 25% khối lượng hủy bán toàn thị trường. - Trong đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa:
+ Nhóm 96 tài khoản tham gia đặt lệnh mua trong 207/283 phiên với tổng khối lượng đặt mua là 481.583.360 cổ phiếu FLC (chiếm 62,69% tổng khối lượng đặt mua toàn thị trường). Trong đó, có 163/207 phiên tỷ trọng đặt mua chiếm tỷ lệ trên 25% so với thị trường; khớp mua 67.446.710 cổ phiếu FLC (chiếm 22,17% khối lượng khớp mua toàn thị trường trong phiên xác định giá đóng cửa). Trong đó, 51/207 phiên có tỷ trọng khớp mua chiếm trên 25% khối lượng khớp toàn thị trường trong phiên xác định giá đóng cửa;
+ Đặt bán trong 13/283 phiên với tổng khối lượng đặt bán là 6.722.540 cổ phiếu FLC (chiếm 1,75% khối lượng đặt bán toàn thị trường). Trong đó, có 7/13 phiên có khối lượng đặt bán chiếm tỉ trọng trên 25% tổng khối lượng đặt bán toàn thị trường; tổng khối lượng khớp bán 5.314.540 cổ phiếu FLC (chiếm 1,75% khối lượng khớp bán toàn thị trường trong phiên xác định giá đóng cửa). Trong đó, có 5/13 phiên có tỷ trọng khớp bán chiếm trên 25% khối lượng khớp bán toàn thị trường trong phiên xác định giá đóng cửa.
b) Đối với giao dịch khớp lệnh thoả thuận của Nhóm 96 tài khoản
Trong giai đoạn từ ngày 23/9/2020 đến 10/01/2022, Nhóm 96 tài khoản không phát sinh giao dịch thoả thuận. Thu lợi bất chính: Từ ngày ngày 23/9/2020 đến ngày 10/01/2022, Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế cùng đồng phạm thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán đối với cổ phiếu FLC thu lợi bất chính 397.338.681.335 đồng. Đối với Trịnh Văn Quyết chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế việc bán trái pháp luật 74.800.0000 cổ phiếu FLC với tổng giá trị khớp lệnh là 1.689.422.165.000 đồng (ngày 10/01/2022), đã hoàn thành về hành vi phạm tội nhưng chưa đạt hậu quả là do UBCKNN ngăn chặn. Về việc sử dụng số tiền thu lợi bất chính 723.322.534.069 đồng, Trịnh Văn Quyết đã chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế chuyển tiền để Quyết sử dụng các mục đích khác nhau, cụ thể:
- Từ ngày 08/02/2021 đến ngày 21/10/2021, chuyển 83.786.298.800 đồng vào tài khoản của Công ty CP Hàng không Tre Việt để mua cổ phần Công ty CP Hàng không Tre Việt;
- Ngày 17/3/2021, chuyển 29,34 tỷ đồng vào tài khoản số 22210000108415 của Công ty Newland Holdings để mua cổ phần Công ty CP CP FLC Travel;
- Ngày 17/01/2018, chuyển 35,95 tỷ đồng vào tài khoản số 22210000009989 của Lê Thị Ngọc Diệp (vợ Quyết); Ngày 09/03/2020, chuyển 9.060.575.000 đồng vào tài khoản số 31010001869647 của Công ty CP Nông dược HAI để mua cổ phần của Công ty CP Nông dược HAI (mã chứng HAI);
- Từ ngày 06/02/2020 đến ngày 09/4/2021, 13 lần chuyển 73.650.000.000 đồng vào tài khoản của Tống Xuân Vương để trả nợ.
- Trả tiền sửa chữa nhà biệt thự BT30, khu đô thị Mỹ Đình đứng tên Trịnh Văn Quyết và Lê Thị Ngọc Diệp với số tiền 7.799.366.000 đồng;
- Từ ngày 22/8/2017 đến ngày 04/3/2021 nộp 38.105.100.000 đồng vào tài khoản chứng khoán đứng tên Trịnh Văn Quyết.
- Ngày 28/05/2021 chuyển 100 tỷ đồng vào tài khoản số 107871257263 của Trịnh Thị Minh Huế mở tại Ngân hàng Vietinbank để gửi tiết kiệm.
- Số tiền còn lại, Quyết và Huế sử dụng để mua bán chứng khoán, hoạt động của các công ty thuộc Tập đoàn FLC và các công ty liên quan. Kết quả điều tra đã làm rõ được hành vi phạm tội của các bị can như sau:
(1) Bị can Trịnh Văn Quyết, là chủ mưu, chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thúy Nga, Hương Trần Kiều Dung và các đồng phạm khác thực hiện hành vị cấp khống tiền cho các tài khoản do Huế quản lý sử dụng để thao túng 05 mã cổ phiếu AMD, HAI, GAB, ART và FLC thu lợi bất chính số tiền 723.322.534.069 đồng; trong đó có mã AMD thao túng trong giai đoạn từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017 thu lợi bất chính 39.075.817.133 đồng, trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã đề nghị UBCKNN xử lý theo quy định tại Điều 29 Nghị định 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Do đó, Trịnh Văn Quyết phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lợi bất chính của 04 mã chứng khoán HAI, GAB, ART và FLC là 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
(2) Bị can Trịnh Thị Minh Huế, Kế toán Tập đoàn FLC, em ruột Trịnh Văn Quyết: Thực hiện chỉ đạo của Trịnh Văn Quyết, Huế nhờ 45 cá nhân có quan hệ gia đình, đứng tên lập hồ sơ, thủ tục để Huế thành lập 20 công ty và mở 500 tài khoản tại 43 công ty chứng khoán giao cho Huế quản lý, sử dụng để thực hiện các hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Từ ngày 26/5/2017 đến ngày 10/01/2022, Huế đã sử dụng 190/500 tài khoản chứng khoán mở tại 18/43 Công ty chứng khoán và 83 tài khoản ngân hàng để:
- (1) liên tục mua bán cùng loại chứng khoán;
- 2) mua bán khớp chéo (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu);
- (3) mua bán với khối lượng lớn, chi phối thị trường vào thời điểm mở của đóng cửa;
- (4) đặt lệnh mua/bán sau đó hủy lệnh.... nhằm tạo ra cung cầu giả tạo, thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, GAB, ART và FLC, giúp Quyết thu lợi bất chính số tiền 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
(3) Bị can Trịnh Thị Thúy Nga, Thành viên HĐQT, Phó Tổng Giám đốc Công ty BOS: Thực hiện chỉ đạo của Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế và ủy quyền của HĐQT tại các Nghị quyết số 01 và số 10, Nga đã chỉ đạo Phòng Dịch vụ chứng khoán cấp khống tiền cho nhóm tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng để đặt lệnh mua cổ phiếu FLC, ART, HAI, AMD, GAB với tổng số tiền là 170.598.050.000.000 đồng; tổng giá trị thiếu tiền khớp lệnh mua là 11.651.608.017.410 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết/Trịnh Thị Minh Huế thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 100 triệu đồng.
(4) Bị can Hương Trần Kiều Dung, Phó Chủ tịch Thường trực Tập đoàn FLC kiêm Chủ tịch HĐQT, người đại diện theo pháp luật của Công ty BOS: Biết Trịnh Thị Thúy Nga cho các tài khoản chứng khoán trong nhóm của Trịnh Văn Quyết mua cổ phiếu khi không có đủ tiền trong tài khoản là trái pháp luật nhưng đã ký Biên bản họp HĐQT số 01 và số 10; đại diện HĐQT ký Nghị quyết số 01 và số 10, ủy quyền cho Trịnh Thị Thúy Nga được cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng mua chứng khoán với số tiền trên 10 tỷ đồng không có tài sản đảm bảo trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 80 triệu đồng/tháng.
(5) Bị can Chu Tiến Vượng, Chánh Văn phòng HĐQT, Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT Công ty BOS: Vượng biết việc cho khách hàng mua chứng khoán không có đủ tiền là trái quy định của pháp luật; được Hương Trần Kiều Dung ủy quyền giám sát quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐQT. Vượng ký tắt vào Nghị quyết số 01 để Hương Trần Kiều Dung ký ủy quyền cho Trịnh Thị Thúy Nga được cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng mua chứng khoán với số tiền trên 10 tỷ đồng không có tài sản đảm bảo trái pháp luật. Vượng được các cá nhân thuộc các Phòng dịch vụ chứng khoán, Kế toán, Quản trị rủi ro báo cáo hàng ngày việc cho nhóm tài khoản của Nga mua chứng khoán khi không có đủ tiền trên ứng dụng Viber. Quá trình thực hiện nhiệm vụ, Vượng đã thay mặt HĐQT làm việc, ký biên bản với Đoàn kiểm tra của UBCKNN về vi phạm của BOS khi cho khách hàng mua chứng khoán không có đủ tiền. Tuy nhiên, Vượng vẫn đồng ý để Nga cấp tiền khống cho các tài khoản do Huế quản lý, sử dụng để thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART, giúp Quyết thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng phụ cấp 4,5 triệu đồng/tháng.
(6) Bị can Nguyễn Quỳnh Anh, Tổng Giám đốc Công ty BOS: chịu trách nhiệm điều hành toàn diện hoạt động kinh doanh chứng khoán của Công ty BOS; quá trình thực hiện nhiệm vụ Quỳnh Anh biết Trịnh Thị Thúy Nga cho các tài khoản chứng khoán do Huế quản lý, sử dụng mua chứng khoán khi không có đủ tiền trong tài khoản là trái quy định pháp luật nhưng đã ký Báo cáo số 01 ngày 20/01/2020 và số 02 ngày 28/4/2020 đề xuất với HĐQT ủy quyền cho Trịnh Thị Thúy Nga được cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng mua chứng khoán với số tiền trên 10 tỷ đồng không có tài sản đảm bảo trái pháp luật; ký các chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, hạch toán các khoản tiền từ việc cho mua chứng khoán thiếu tiền, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. Bị can Quỳnh Anh đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 73 triệu đồng/tháng.
(7) Bị can Nguyễn Thị Thanh Phương, Trưởng phòng Dịch vụ chứng khoán Công ty BOS: Chịu trách nhiệm quản lý tài khoản chứng khoán, thanh toán bù trừ chứng khoán... Thực hiện chỉ đạo của Trịnh Thị Thúy Nga, từ ngày 26/5/2017 đến ngày 10/01/2022, Phương đã thực hiện 596 lần cấp khống số tiền 96.456 tỷ đồng cho 69 tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế sử dụng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 21 triệu đồng/tháng.
(8) Bị can Nguyễn Thị Thu Thơm, Phó Trưởng phòng Dịch vụ chứng khoán Công ty BOS: Chịu trách nhiệm quản lý tài khoản chứng khoán, thanh toán bù trừ chứng khoán... Thực hiện chỉ đạo của Trịnh Thị Thúy Nga và Nguyễn Thị Thanh Phương, từ ngày 19/12/2019 đến ngày 29/4/2021, Thom đã thực hiện 872 lần cấp khống cho 03 mã cổ phiếu GAB, ART và FLC số tiền 51.648 tỷ đồng cho 35 tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế sử dụng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 17 triệu đồng/tháng.
(9) Bị can Bùi Ngọc Tú, Phó Trưởng phòng Dịch vụ chứng khoán Công ty BOS: Chịu trách nhiệm quản lý tài khoản chứng khoán, thanh toán bù trừ chứng khoán... Thực hiện chỉ đạo của Trịnh Thị Thúy Nga và Nguyễn Thị Thanh Phương, từ ngày 23/3/2020 đến ngày 07/01/2022, Tú đã thực hiện 100 lần cấp khống cho 02 mã cổ phiếu GAB và FLC số tiền 22.494 tỷ đồng cho 18 tài khoản chứng khoán do Trịnh Thị Minh Huế sử dụng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 02 mã cổ phiếu FLC, GAB thu lợi bất chính 400.776.468.364 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 18 triệu đồng/tháng.
(10) Bị can Trần Thị Lan, Kế toán trưởng Công ty BOS (từ ngày 04/9/2020 đến nay): Chịu trách nhiệm ký các chứng từ, hóa đơn, số sách kế toán; thanh toán bù trừ chứng khoán...Từ ngày 14/9/2020 đến ngày ngày 11/01/2022, Lan lập, trình Nguyễn Quỳnh Anh/Trịnh Thị Thúy Nga ký 140 Ủy nhiệm chỉ chuyển 10.358.700.000.000 đồng để thanh toán bù trừ đối với mã cổ phiếu GAB, ART và FLC cho 138 ngày giao dịch, với tổng số tiền thiếu khi khớp lệnh là 4.307.117.502.532 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 28 triệu đồng/tháng.
(11) Bị can Quách Thị Xuân Thu, Phó Phòng kế toán Công ty BOS (từ tháng 9/2018 đến ngày 03/9/2020): Chịu trách nhiệm ký các chứng từ, hóa đơn, số sách kế toán; thanh toán bù trừ chứng khoán...Từ ngày 23/12/2019 đến ngày 03/9/2020, Thu đã lập, trình Nguyễn Quỳnh Anh/Trịnh Thị Thúy Nga ký 106 Ủy nhiệm chi chuyển 8.022.420.000.000 đồng để thanh toán bù trừ đối với mã cổ phiếu GAB cho 100 ngày giao địch, với tổng số tiền thiếu khi khớp lệnh là 5.272.436.529.007 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 01 mã cổ phiếu GAB thu lợi bất chính 3.437.787.029 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 28 triệu đồng/tháng.
(12) Bị can Trịnh Văn Đại, Trưởng nhóm vật tư cảnh quan, Phòng Vật tự mua sắm và cung ứng vật tư Công ty TNHH FLC Land: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ để Huế thành lập, đứng tên là người đại diện theo pháp luật 03 công ty và mở 21 tài khoản chứng khoán: (1) Công ty TNHH Đầu tư Thương mại và Xuất nhập khẩu Vietexco; (2) Công ty CP Vật tư thiết bị và xây dựng Đô Thành Hà Nội; (3) Công ty CP Đầu tư và Thương mại SCO. Ngoài ra, Đại còn cho Huế mượn chứng minh thư mở 12 tài khoản chứng khoán mang tên cá nhân để Huế thao túng thị trường chứng khoán. Trịnh Thị Minh Huế đã sử dụng 14/33 tài khoản đứng tên công ty và cá nhân Trịnh Văn Đại để thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, GAB, ART, FLC. Cụ thể: Huế sử dụng 14 tài khoản này đề giao dịch trong 373 phiên giao dịch, đối với 04 mã chứng khoán: HAI, GAB, ART, FLC; đặt 4.211 lệnh mua, giá trị khớp mua 1.115.543.692.400 đồng; 447 lần hủy mua; đặt 1.230 lệnh bán, giá trị khớp bán: 115.558.143.900 đồng; ký khống 110 chứng từ, nộp tiền, chuyển tiền, rút tiền để Huế thực hiện giao dịch với tổng số tiền 1.469.143.321.000 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
(13) Bị can Nguyễn Văn Mạnh, Phó Tổng giám đốc Công ty Faros: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ để thành lập, đứng tên là người đại diện theo pháp luật 02 công ty để Huế mở 43 tài khoản chứng khoán, gồm: Công ty CP Đầu tư thương mại và phát triển dịch vụ Phúc Thịnh, Công ty CP Đầu tư và xây dựng An Du và đứng tên cá nhân Nguyễn Văn Mạnh mở 16 tài khoản chứng khoán để Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế đã sử dụng 11/43 tài khoản để thực hiện thao túng thị trường chứng khoán trong 166 phiên giao dịch đối với 04 mã chứng khoán: FLC, GAB, HAI, ART; đặt 612 lệnh mua, với tổng giá trị khớp mua 295.744.186.100 đồng; hủy mua 89 lần; đặt 730 lệnh bán với tổng giá trị khớp bán: 486.465.465.400 đồng; ký 76 chứng từ để chuyển tiền, nộp tiền, rút tiền để Huế sử dụng với tổng số tiền 1.875.341.000.000 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
(14) Bị can Trịnh Tuân, Trưởng phòng vật tư, Công ty TNHH FLC Land: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ, tài liệu liên quan để thành lập, đứng tên là người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH Đầu tư và phát triển ITH mở 16 tài khoản chứng khoán và mở 17 tài khoản chứng khoán cá nhân để Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế đã sử dụng 17/33 tài khoản để thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán trong 308 phiên giao dịch đối với 04 mã chứng khoán FLC, GAB, HAI, ART; đặt 1.225 lệnh mua với giá trị khớp mua: 964.636.509.600 đồng; hủy 213 lệnh mua; đặt 582 lệnh bán với tổng giá trị khớp bán 1.074.945.451.900 đồng; ký 101 chứng từ (ủy nhiệm chỉ, giấy rút tiền mặt), với tổng số tiền 1.402.088.200.000 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 35 triệu đồng/tháng.
(15) Bị can Nguyễn Thị Hồng Dung, Thợ may: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ để thành lập và đứng tên người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH Khu Công nghiệp Toàn Cầu để Huế mở 13 tài khoản chứng 73 khoán; đứng tên cá nhân mở 12 tài khoản chứng khoán để Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế đã sử dụng 12/25 tài khoản để thực hiện thao túng thị trường chứng khoán trong 263 phiên giao dịch đối với 04 mã chứng khoán: HAI, GAB, ART, FLC; đặt 1.477 lệnh mua, tổng giá trị khớp mua 788.489.693.700 đồng; hủy mua 375 lần; đặt 692 lệnh bán, với giá trị khớp bán 826.938.336.400 đồng; ký 102 chứng từ chuyển tiền, nộp tiền, rút tiền để Huế thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 1.240.927.683.043 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 05 triệu đồng/tháng; đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 70 triệu đồng.
(16) Bị can Nguyễn Quang Trung, lái xe Bệnh viện Hà Thành: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ thành lập, đứng tên là người đại diện theo pháp luật 02 công ty để Huế mở 20 tài khoản chứng khoán, gồm: Công ty CP Xây dựng và Phát triển thương mại Đại Dương Xanh và Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Eldon; mở 08 tài khoản chứng khoán cá nhân để Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế đã sử dụng 12/28 tài khoản để thực hiện thao túng thị trường chứng khoán trong 469 phiên giao dịch đối với 04 mã chứng khoán: HAI, GAB, ART, FLC; đặt 1.657 lệnh mua, với tổng giá trị khớp mua 980.900.780.800 đồng; hủy lệnh mua 275 lần; đặt lệnh bán 937 lần, với tổng giá trị khớp bán: 1.120.970.160.200 đồng; ký khống 93 chứng từ chuyển tiền, nộp tiền, rút tiền để Huế thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 1.454.815.000.000 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 7,5 triệu đồng/tháng.
(17) Bị can Trịnh Thị Thanh Huyền, nhân viên Công ty CP Đầu tư kinh doanh bất động sản FLC Home: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ thành lập, đứng tên là người đại diện theo pháp luật 02 công ty để Huế mở 18 tài khoản chứng khoán, gồm: Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Thịnh Phát và Công ty CP Đầu tư Kinh doanh và phát triển An Bình; mở 13 tài khoản chứng khoán cá nhân để Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế đã sử dụng 12/31 tài khoản để thao túng thị trường chứng khoán trong 375 phiên giao dịch đối với 04 mã chứng khoán FLC, GAB, HAI, ART; đặt 2.459 lệnh mua, tổng giá trị khớp mua 1.271.587.727.900 đồng; hủy mua 333 lần; đặt 662 lệnh bán, tổng giá trị khớp bán 951.683.889.500 đồng; Ký 101 chứng từ (ủy nhiệm chỉ, giấy rút tiển mặt) với tổng số tiền 1.132.530.103.000 đồng để Huế thực hiện các giao dịch, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 08 triệu đồng/tháng; đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 160 triệu đồng. (18) Bị can Hoàng Thị Huệ, nhân viên Công ty CP Thương mại và dịch vụ FLC: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ đứng tên là người đại diện theo pháp luật Công ty CP Vật tư thiết bị Đô Thành Hà Nội để Huế mở 05 tài khoản và mở 13 tài khoản cá nhân để sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế sử dụng 06/13 tài khoản giao dịch 157 phiên; đặt 835 lênh mua với tổng giá trị khớp mua 286.611.885.700 đồng; hủy 271 lệnh mua; đặt 476 lệnh bán với tổng giá trị khớp bán 426.371.201.000 đồng; ký 104 chứng từ (ủy nhiệm chỉ, 74 giấy rút tiền mặt) với tổng số tiền 1.278.998.000.000 đồng để Huế thực hiện giao dịch, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 3 triệu đồng/tháng; đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 48 triệu đồng.
(19) Bị can Đỗ Thị Huyền Trang, nhân viên Ban Kế toán Tập đoàn FLC: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ, tài liệu đứng tên là người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH Đầu tư địa ốc Thanh Hóa để Huế mở 07 tài khoản chứng khoán và mở 12 tài khoản chứng khoán cá nhân để Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế đã sử dụng 10/19 tài khoản thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán trong 214 phiên giao dịch đối với 04 mã chứng khoán HAI, GAB, ART, FLC; đặt 888 lệnh mua với tổng giá trị khớp mua 534.709.129.100 đồng; hủy 205 lệnh mua; đặt 369 lệnh bán với tổng giá trị khớp bán 608.818.771.400 đồng; ký 97 chứng từ (ủy nhiệm chỉ, giấy rút tiền mặt), với tổng số tiền 1.127.518.00.000 đồng để Huế thực hiện giao dịch, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 25 triệu đồng/tháng; đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 54 triệu đồng.
(20) Bị can Nguyễn Thị Nga, nhân viên Ban kế toán Tập đoàn FLC: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ thành lập, đứng tên là người đại diện theo pháp luật Công ty CP Đầu tư và Phát triển IMR, Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển ACO để Huế mở 22 tài khoản chứng khoán thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế sử dụng 13/22 tài khoản để thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán trong 305 phiên giao dịch đối với 03 mã cổ phiếu FLC, ART, GAB; đặt 1.014 lệnh mua, tổng giá trị khớp mua 832.630.997.200 đồng; hủy 237 lệnh mua; đặt 697 lệnh bán, tổng giá trị khớp bán 981.141.726.600 đồng; Ký 148 chứng từ (ủy nhiệm chỉ, giấy rút tiền mặt), với tổng số tiền 1.782.440.841.512 đồng để Huế thực hiện giao dịch, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 17 triệu đồng/tháng; đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 108 triệu đồng.
(21) Bị can Trịnh Văn Nam, nhân viên Công ty CP Hàng không Tre Việt: Cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân, ký các giấy tờ thành lập, đứng tên người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH Đầu tư và thương mại SIP và Công ty TNHH Đầu tư Thương mại và xuất nhập khẩu Tâm An để mở 19 tài khoản sử dụng thao túng thị trường chứng khoán. Cụ thể: Huế đã sử dụng 10/19 tài khoản để thực hiện thao túng thị trường chứng khoán trong 292 phiên giao dịch đối với 03 mã chứng khoán: FLC, ART, GAB; đặt 1.491 lệnh mua, giá trị khớp mua: 1.079.762.039.100 đồng; hủy lệnh mua 279 lần; đặt 1.108 lệnh bán, giá trị khớp bán 1.298.105.062.700 đồng; ký 46 chứng từ chuyển tiền, nộp tiền, rút tiền để Huế thực hiện các giao dịch, với tổng số tiền 601.425.000.000 đồng, giúp Trịnh Văn Quyết thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. Bị can khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và khai được hưởng lương 45 triệu đồng/tháng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét