NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về phạm vi khởi kiện; quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà A, ông T yêu cầu công nhận phần đất tọa lạc tại: đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang) theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 11/12/2024 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 70-2025 ngày 14/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố R, phần đất có chiều ngang trước 4,8m; chiều ngang phía sau 6,7m; chiều dài một bên giáp với bà N là 30,06m; chiều dài bên còn lại là 28.58m; diện tích 153,1m². Yêu cầu vợ chồng bà N, ông T1 thực hiện các thủ tục sang tên, tách thửa phần diện tích đất nêu trên cho vợ chồng bà A, ông T đứng tên quyền sử dụng. Quá trình tố tụng, bị đơn không có yêu cầu phản tố; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Căn cứ khoản 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, tranh chấp giữa các bên được xác định là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang). Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – An Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện ngày 28/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, theo các Thông báo tố tụng, Tòa án đưa Ngân hàng N1 và các cá nhân bà Nguyễn Thị Ánh T5, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị Bích T2, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn D2, ông Nguyễn Văn D1, ông Nguyễn Minh T3 là những người có cùng quan hệ huyết thống với bà A và bà N vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tranh chấp giữa các bên là tranh chấp Quyền sử dụng đất, các bên không có tranh chấp về di sản thừa kế; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không ảnh hưởng, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các cá nhân nêu trên nên không cần thiết đưa các cá nhân trên vào tham gia tố tụng. Đồng thời tại văn bản ngày 12/11/2025, Ngân hàng N1 xác nhận bà N, ông T1 đã tất toán khoản vay tại Ngân hàng và Ngân hàng đã thực hiện giao trả tài sản thế chấp lại cho ông T1, bà N theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất, xác định các cá nhân, gồm: bà Nguyễn Thị Ánh T5, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn C1, bà Nguyễn Thị Bích T2, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn D2, ông Nguyễn Văn D1, ông Nguyễn Minh T3 và Ngân hàng N1 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[3] Về vị trí đất tranh chấp: Các bên đương sự đều thống nhất với Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 11/12/2024 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 70-2025 ngày 14/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố R (nay là Chi nhánh Khu vực liên phường R) và yêu cầu Tòa án căn cứ vào tài liệu nêu trên để xem xét giải quyết vụ án theo quy định, không yêu cầu thực hiện lại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nguồn gốc và thông tin về thửa đất: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nội dung xác nhận của các bên đương sự có quan hệ huyết thống với nhau, thể hiện: Phần diện tích đất 396,12m², thửa số 57, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại: đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là đường N, phường R, tỉnh An Giang) là do cha, mẹ của bà A và bà N là ông Nguyễn Văn C, bà Trương Thị Diệu thừa kế từ ông, bà để lại. Bà Trương Thị D (chết năm 1996), ông Nguyễn Văn C (chết năm 2013). Sau khi ông Nguyễn Văn C chết, tất cả những người con chung của ông C, bà D thống nhất lập Văn bản phân chia di sản thừa kế, được Văn phòng Công chứng chứng nhận ngày 17/12/2013, với nội dung tặng cho toàn bộ di sản của ông Nguyễn Văn C để lại cho bà Nguyễn Thị Bích N được hưởng. Nhà và đất bà N đã được cấp giấy chứng nhận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BS 498918 được UBND thành phố R cấp ngày 07/01/2014. Hiện trạng trên đất có 02 căn nhà, 01 căn do vợ chồng bà N, ông T1 đang quản lý, sử dụng và 01 căn do vợ chồng bà A, ông T đang quản lý, sử dụng từ năm 2014 cho đến nay được thể hiện cụ thể trong Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 11/12/2024 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 70-2025 ngày 14/3/2025.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà A, ông T: Xét thấy, tại phiên tòa nguyên đơn bà A, ông T và bị đơn bà N, ông T1 đã thống nhất thỏa thuận với nhau, cụ thể: Bà N, ông T1 đồng ý giữ nguyên hiện trạng nhà, đất tọa lạc tại số F, đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là đường N, phường R, tỉnh An Giang) mà bà A, ông T đang quản lý, sử dụng và đồng ý thực hiện các thủ tục sang tên, tách thửa cho bà A, ông T theo quy định của pháp luật. Vị trí, hiện trạng nhà và đất của bà A, ông T được xác định theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án ngày 11/12/2024 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 70 – 2025 (57-21), ngày 14/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố R (nay là Chi nhánh Khu vực liên phường R), được xác định theo các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, có diện tích 153,1m², đất ở thuộc Giấy chứng nhận số BS 498918, trong đó có 4m² thuộc HLATGT đường bộ, cụ thể:
+ Điểm 7 - 8 = 4,80m ngang trước giáp đường N;
+ Điểm 8 - 2 = 30,06m, chiều dài giáp với bà N, ông T1;
+ Điểm 2 - 3 = 6,70m, chiều dài giáp thửa 111;
+ Điểm 3 - 4 = 2,92m; 4 - 5 = 1,83m; 5 - 6 = 25,66m; 6 - 7 = 1,21m; chiều dài giáp thửa 36 và thửa 38.
Do kết cấu căn nhà của bà N, ông T1 và căn nhà của bà A, ông T đang sử dụng có kết cấu chung cột, chung đà dọc nhà, chung mái nhà bằng bê tông. Vì vậy, nếu sau này một trong các bên có tiến hành sửa chữa, xây dựng nhà thì phải báo cho bên kia biết trước 01 (một) tháng để tự gia cố, sửa chữa, nâng cấp căn nhà của mình để đảm bảo an toàn. Nếu bên đã được thông báo không tự thực hiện việc gia cố, sửa chữa, nâng cấp căn nhà thì mọi thiệt hại sẽ tự gánh chịu. Các chi phí, gồm: Chi phí cho việc tách cột chung, đà dọc nhà chung và mái nhà bằng bê tông chung thì bên nào tiến hành xây dựng trước thì bên đó chịu. Các chi phí cho việc sửa chữa, gia cố, nâng cấp căn nhà của bên nào thì bên đó tự chịu. Các bên được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Bà N, ông T1 và bà A, ông T có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai tiến hành các thủ tục sang tên, tách thửa theo quy định. Thuế và các chi phí phát sinh (nếu có) do bà A, ông T chịu.
Nhận thấy, sự thỏa thuận nêu trên của các đương sự là tự nguyện, phù hợp hiện trạng thực tế nhà, đất mà các bên quản lý, sử dụng đất, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Trong thảo luận nghị án Hội đồng xét xử thống nhất ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên.

[6] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; trích đo địa chính là 1.130.469đ (Một triệu một trăm ba mươi nghìn bốn trăm sáu mươi chín đồng). Bà A, ông T đã tạm nộp chi phí nêu trên. Ghi nhận sự tự nguyện của bà A, ông T nộp toàn bộ chi phí tố tụng số tiền nêu trên. Bà A, ông T đã nộp xong.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà A, ông T nộp toàn bộ án phí số tiền 300.000 đồng. Bà A, ông T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006195, ngày 07/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá (Nay là Phòng thi hành án Dân sự Khu vực 1 – An Giang) nên được khấu trừ.

Vì các lẽ trên,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét