NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
- Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp tài sản dòng họ là đúng quy định tại Khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân (nay là Tòa án khu vực 3, tỉnh Hà Tĩnh) theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chỉ cung cấp được thông tin về các thành viên của dòng họ là các đồng nguyên đơn trong vụ án. Tuy nhiên căn cứ vào khoản 3 Điều 4 và điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05/3/2020 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao HĐXX chấp nhận đây là các thành viên của dòng họ. Quyền, nghĩa vụ của thành viên dòng họ chưa tham gia tố tụng sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
[2] Về nội dung vụ án và xét kháng
cáo của các đương sự:
[2.1] Về tài sản tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu: Văn bản số
77/CV-UBND ngày 12/6/2023 của UBND xã Đ (nay là UBND xã Đ) về việc cung cấp tài
liệu, chứng cứ cho Tòa án (BL313 hồ sơ vụ án); Căn cứ vào các kết quả xác minh
của Tòa án và trình bày của bị đơn trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm
thì quá trình từ trước đến nay gia đình ông Nguyễn Viết H1 (đã mất) và con cháu
hàng năm đều về thắp hương tại nhà thờ cho đến năm 2018 thì bà Thiều Thị T3
không cho vào thắp hương; Theo phong tục tập quán tại địa phương việc thờ cúng
bố mẹ không làm thành nhà thờ riêng mà được thờ trong gia đình hơn nữa hiện nay
bố mẹ bà T6 đã được thờ cúng tại nhà thờ dòng họ H18 ở thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh
Hà Tĩnh (nay là xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh); Kết quả xác minh thì trên địa bàn xã Đ các
dòng họ đều có nhà thờ và nhà thờ đang tranh chấp không thuộc nhà thờ dòng họ
nào khác; Bố mẹ bà Hà Thị T6 hiện đang được thờ cúng tại nhà thờ dòng họ H16 chứ
không phải được thờ ở nhà thờ đang có tranh chấp. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm khẳng
định nhà thờ đang tranh chấp là nhà thờ dòng họ Lê là có căn cứ.
[2.2] Về nội dung các đồng nguyên đơn có liên quan gì đối với dòng họ Lê
Quá trình giải quyết vụ án UBND xã Đ cung cấp thông tin của các nguyên đơn:
Ông Nguyễn Viết H1 là con trai bà Lê Thị E (hay còn gọi là bà B2; bà Lê Thị E có 2 người chồng và ông H1 là con trai của người chồng thứ 2). Ông Nguyễn Văn T là con trai bà Pham Thi B3, cháu ngoại bà Lê Thi C2 (bà B3), chắt ngoại cụ Lê Văn S1 (gọi Cụ S3 bằng cố ngoại). Ông Nguyễn Tiến H3 là cháu nội bà Phạm Thị B3, chắt ngoại bà Lê Thị C2 (bà B3), chiu ngoại cụ Lê Văn S1. Bà Nguyễn Thị Hoài L2 con gái ông Nguyễn Viết H1, cháu nội bà Lê Thị E, chắt ngoại cụ Lê Văn S1 (gọi cụ S1 bằng cố ngoại). Bà Trần Thị N và bà Trần Thị T2 là con gái bà Phan Thị D2, cháu ngoại bà Lê Thị E (bà Lê Thị E có 2 người chồng và bà Phan Thị D2 là con của người chồng đầu), chắt ngoại Cụ Lê Văn S1 (gọi cụ S1 bằng cố ngoại).
Tại Giấy xác nhận thông tin trong lý lịch cán bộ của ông Nguyễn Viết H1 đã được công an tỉnh H (Phòng PX01) xác nhận:
ông Nguyễn Viết H1 có ông ngoại là Lê Văn T10 và bà ngoại Lê Thị L3; cha đẻ là Nguyễn Viết K, mẹ đẻ là Lê Thị E. Từ đó có căn cứ khẳng định ông Nguyễn Viết H1 và các đồng nguyên đơn là con cháu ngoại của dòng họ L.Theo trả lời của UBND xã Đ dòng họ theo phong tục tập quán tại địa phương là những người có chung họ và tại địa phương con cháu đều mang họ nội (họ của bố) không mang họ ngoại (họ mẹ). Những người khởi kiện đếu là thành viên dòng họ N5 và họ Trần có nhà thờ trên địa bàn; theo lời thừa nhận của người khởi kiện và kết quả xác minh tại tộc trưởng của dòng họ N5 và họ Trần đều khẳng định những người người khởi kiện là thành viên của dòng họ và không thuộc thành viên dòng họ Lê.
Tuy nhiên, con cháu có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ không phân biệt đó là gái hay trai. Nếu gia đình, dòng họ có con trai thì con trai, cháu chắt bên nội sẽ đảm nhiệm việc thờ cúng chính, con gái vẫn phải có nghĩa vụ thắp hương thờ cúng. Còn đối với gia đình, dòng họ không có con trai thì việc thờ cúng tổ tiên sẽ do con gái và cháu chắt ngoại đảm nhiệm thờ cúng.
Như vậy đối với dòng họ L đến đời cụ Lê Văn S1 thì không có con trai nên khi mất việc thờ cúng tổ tiên của dòng họ L là do các con gái và cháu chắt ngoại của cụ đảm nhiệm. Hơn nữa con cháu ngoại cũng có một phần dòng máu nên việc thờ cúng tổ tiên và quản lý, sử dụng tài sản nhà thờ của các cụ để lại là phù hợp.
- Đối với bà Hà Thị T6: Tại văn bản số 194/QLHC ngày 21/3/2023 Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (P1) Công an tỉnh H cung cấp thông tin: “Căn cứ vào tài liệu lưu tại tàng thư chứng minh nhân dân 9 số: Bà Hà Thị T6; sinh ngày 10/6/1908; Nguyên quán: xã X (Nay là xã Đ), huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; họ tên cha: Hà Văn P, họ tên mẹ: Lê Thị S2; Số chứng minh nhân dân 180393952, cấp ngày 23/8/1978 tại công an tỉnh N ; Tại biên bản xác làm việc với ông Hà Văn H17 là tộc trưởng dòng họ H16 tại xã Đ cho biết “Ông Nguyễn Viết H1 có mối quan hệ với bên ngoại của bà Hà Thị T6, quá trình bà T6 ốm đau cũng như khi mất thì ông H1 cùng với anh em dòng họ H16 là bên nội đứng ra chăm sóc lo công việc ma chay chôn cất". Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ để khẳng định bà Hà Thi T6 là con cháu đằng ngoại của dòng họ L (mẹ là Lê Thi S2).
Từ những phân tích trên cần khẳng định các đồng nguyên đơn là cháu, chắt ngoại
của dòng họ L có quyền khởi kiện đòi lại tài sản dòng họ là phù hợp với quy định
tại Điều 186 BLTTDS và Điều 2 Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05/3/2020 của
Hội đồng thẩm phán TAND tối cao “Thành viên dòng họ là cá nhân trong dòng họ được
xác định theo tập quán phổ biến, được thừa nhận nơi dòng họ tồn tại.”
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của các đồng
nguyên đơn về việc giao nhà thờ và khuôn viên nhà thờ với tổng diện tích 60,6
m²
- Căn cứ Giấy bán
nhà ngày 07/12/1981 giữa bà Hà Thi T6 và bị đơn đã ghi rõ “Với hoàn cảnh của
tôi hiện tại quá già yếu không có ai nương tựa trong tuổi già mình yếu nên tôi
tự nghĩ phải về với cháu tôi để giữ mình già yếu của đời tôi. Do đó cho nên tài
sản của tôi phải nhường lại cho một người khác. Hiện nay với sự thống nhất giữa
tôi và anh Nguyễn Quang L1 và cô Thiều Thị T3 cả hai anh chị đều là người của đội
và cùng là người trong xã thoát ly đi làm cách mạng nay được nhà nước cho về
hưu. - Tài sản hiện có: 1) Nhà ở + bếp có gắn liền với nhà thờ .....".
Theo bị đơn bà Thiều Thị T3 cho rằng: vào thời điểm năm 1981 khi lập Giấy bán
nhà bà Hà Thị T6 đã bán nhà thờ cho phía bị đơn. Tuy nhiên tại Giấy xin bán nhà
ngày 07/12/1981 giữa bà Hà Thị T6 và bị đơn đã ghi rõ “Trong sự thống nhất của
tôi và anh L1 là nhà thờ nằm nguyên như vậy thấy rằng về ý chí của bà Hà Thị T6
vào thời điểm lập Giấy xin bán nhà vào năm 1981 là không bán nhà thờ. Mặt khác,
khuôn viên nhà thờ được sử dụng từ lâu, do các đồng nguyên đơn là con cháu bên
ngoài nên việc thắp hương ở nhà thờ không thường xuyên. Do đó, có căn cứ để để
xác định nhà thờ với diện tích 16,8m² cho con cháu bên ngoại của dòng họ Lê.
- Bị đơn cho rằng sân bê tông này là do phía bị đơn xây dựng để dùng làm nơi
sinh hoạt hằng ngày nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ về thời gian,
người xây dựng. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thấy rằng trước nhà thờ
có 01 sân nền láng xi măng xung quanh nền xây bằng gạch đỏ diện tích 6,6m²; Sân
gắn liền với nhà thờ được xây vuông thành sắc cạnh, có bậc tam cấp đi vào nhà
thờ; hai bên góc sân gắn liền nhà thờ có 02 ô đất trống được xây bằng gạch gắn
liền với bậc tam cấp và nằm tách biệt hoàn toàn với khu nhà ở của bị đơn. Như vậy
có thể khẳng định sân bê tông này là tài sản gắn liền với nhà thờ không phải là
tài sản của bị đơn như bị đơn đã trình bày. Vì vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu
giao lại sân bê tông có diện tích 6,6m² cho con cháu bên ngoại của dòng họ Lê.
- Theo kết quả thẩm định xác định: phần đất tại thửa đất số 287 tờ bản đồ số 03
tại Xóm B, xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh có diện tích 700m² theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp ngày 01/10/1996 cho bà Thiều Thị T3 có diện tích 300m²;
theo bản đồ 299, tờ bản đồ số 65 có diện tích 619,3 m² theo trả lời của UBND
huyện N thì phần đất nhà thờ sẽ phải cấp đất cho nhà thờ, phần đất còn lại sẽ
được cấp cho người đang sử dụng đất là bà T3. Việc tạm giao đất nhà thờ cho các
đồng nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật, nhưng các đồng nguyên đơn yêu cầu
tạm giao toàn bộ diện tích đất 60,6m² là không phù hợp bởi: Căn cứ vào khuôn
viên nhà thờ có từ trước tới nay; căn cứ vào Giấy tờ bán nhà giữa bà T6 và bà
T3 đều không thể hiện khuôn viên nhà thờ có diện tích 60,6 m²; mặt khác tại Giấy
bán nhà ngày 07/12/1981 thể hiện giữ nguyên nhà thờ, không có căn cứ để chấp nhận
một phần yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn; theo trả lời của UBND huyện
N và UBND xã Đ, huyện N việc tạm giao đất chỉ trên cở sở hiện trạng đã xây dựng
nhà thờ. Nhà thờ là dùng vào việc thờ cúng ông bà tổ tiên hơn nữa như đã phân
tích các yêu cầu khởi kiện ở trên thì con cháu ngoại họ Lê đã được giao nhà thờ
và sân nhà thờ với tổng diện tích xây dựng là 23,4m² (16,8 m² đất nhà thờ và
6,6 m² sân bê tông). Do đó, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của các đồng nguyên đơn về việc đề nghị giao 60,6 m² mà chỉ có căn cứ để chấp
nhận một phần yêu cầu của các đồng nguyên đơn tạm giao đất trên cở sở hiện trạng
xây dựng của nhà thờ và sân nhà thờ với tổng diện tích 23,4m².
[2.4]. Xét yêu cầu của đồng nguyên
đơn về việc dỡ bỏ toàn bộ tường rào, dời dọn nhà xưởng và các công trình xây dựng
trái pháp luật trên đất hương hỏa dòng họ Lê, đường đi vào nhà thờ họ L; Giao lại
nguyên trạng đường đi vào nhà thờ tổ họ Lê có chiều rộng là 2,2m
Tại Giấy bán nhà
ngày 07/12/1981 giữa bà Hà Thị T6 và bị đơn đã ghi rõ “Trong sự thống nhất của
tôi và anh L1 là nhà thờ nằm nguyên. Với điều kiện hiện tại là cần phải có con
đường vào nhà thờ để thắp hương vậy đó tôi và anh L1 đã thỏa thuận để lại một
con đường đi vào nhà thờ. Con đường đó ngoài ba cây mít “Tây ba cây mít”. Đường
cho phép rộng ngang 0,50m. Dài từ bờ vào nhà thờ, khi làm đường xong con đường
đó không được thiết lập cây cối và mọi sự xây dựng khác, chỉ trừ vợ chồng anh
L1 có quyền xây dựng và thiết lập cây cối chung quanh đó”. Như vậy theo Giấy
bán nhà ngày 07/12/1981 vào thời điểm bán nhà bà T6 và bị đơn đã thỏa thuận đã
mở 01 con đường vào nhà thờ với chiều rộng ngoài 03 cây mít đường rộng 0,5m.
Tuy nhiên, hiện nay hiện trạng không còn 03 cây mít mà chỉ còn 01 gốc cây mít
trước nhà thờ; hơn nữa hiện trạng của con đường đi vào nhà thờ đã không còn, kết
quả xác minh đều không phản anh chính xác chiều rộng của con đường đi vào nhà
thờ. Tại biên bản thẩm định ngày 22/9/2023 bị đơn bà Thiều Thị T3 đã xác định
chiều rộng của con đường vào nhà bà T6 và nhà thờ là 1,5m. Xét thấy chiều rộng
con đường đi vào nhà thờ chiều rộng 1,5m như lời trình bày của bị đơn bà Thiều
Thi T3 đã đảm bảo việc đi lại, sinh hoạt thờ cúng vì vậy cần mở đường với chiều
rộng đi vào nhà thờ là 1,5m (tổng diện tích dài 36,8m), con đường đi vào nhà thờ
được mở sát với tường rào nhà ông Nguyễn Văn B1.
Đối với yêu cầu tạm giao đất để mở đường, thấy rằng trước đây con đường đi vào
nhà thờ là con đường chung, vì vậy cần mở đường để đi vào nhà thờ và con đường
này được sử dụng chung cho gia đình bà Thiều Thi T3 và nhà thờ là phù hợp.
Đối với yêu cầu dỡ bỏ toàn bộ tường rào, dời dọn nhà xưởng: Việc mở con đường để
đi vào nhà thờ cần dời dọn xưởng cưa mà bà T3 và vợ chồng con trai Nguyễn Quang
S đã xây dựng và tường rào có chiều ngang 1,5m. Xét thấy việc xây dựng xưởng
cưa vào năm 2002 và tường rào đã làm mất con đường đi vào nhà thờ vì vậy cần buộc
bà T3, anh S và vợ là chị Hồng dời dọn nhà xưởng, tháo dỡ đối với tường rào này
và nguyên đơn không phải hoàn lại giá trị.
Từ những phân tích trên thấy rằng cấp sơ thẩm giải quyết giao cho con cháu ngoại họ Lê sử dụng 01 nhà thờ có diện tích 16.8m² và 01 sân nhà thờ diện tích 6,6m² (tổng 23,4m²) và sử dụng diện tích của con đường chung đi vào nhà thờ là 36,8m² là có cơ sở đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Vì vậy, đối với các nội dung kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn đều không có
căn cứ để chấp nhận. Tại cấp phúc thẩm các đương sự không cung cấp được các tài
liệu gì mới cũng như không có căn cứ để chứng minh cho việc kháng cáo của mình
là có cơ sở. Vì vậy, HĐXX không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các đương
sự.
[3] Về án phí:
Kháng cáo không được
chấp nhận nên nguyên đơn Nguyễn Thị H phải chịu án phí DSPT theo quy định. Bị
đơn Thiều Thị T3 là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét