NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Dương Thị B khởi kiện ông Vũ Thanh T yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản nên quan hệ pháp luật là tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản theo quy định tại Điều 589 Bộ luật Dân sự, khoản 6 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khi khởi kiện ông Vũ Thanh T cư trú tại ấp T, xã N, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp cho người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Bị đơn ông Vũ Thanh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt ông Vũ Thanh T.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Vũ Thanh T trả lại một cây trụ đá vuông khoảng 02 tấc, dài khoảng 1,5m hoặc trả lại 60.000 đồng cho bà B mua cây trụ đá khác.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xác định ngày 09/9/2024, công an xã có phối hợp với địa chính xã và chính quyền địa phương đến giải quyết và đo đạc thì xác định tính từ cây trụ đá ra ngoài sông thì cây dừa nằm trong phần đất của gia đình ông nên gia đình ông được chặt bỏ. Trong thời gian chờ có quyết định thì khoảng 02 – 3 ngày sau, ông phát hiện cây trụ đá vuông khoảng 2 tấc, dài khoảng 1,5m của bà Dương Thị B giáp ranh với phần đất của ông Vũ Thanh T đã bị nhổ mất. Bị đơn ông Vũ Thanh T cũng xác định cây trụ đá giáp ranh đất giữa gia đình ông và gia đình bà B đã bị mất nhưng không rõ mất khi nào và do ai lấy cây trụ đá này. Thấy rằng việc cây trụ đá cặm tại vị trí giáp ranh giữa phần đất của bà Dương Thị B và ông Vũ Thanh T bị mất là có xảy ra trên thực tế.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định cây trụ đá vuông khoảng 2 tấc, dài khoảng 1,5m bị mất không rõ của bà B hay ông T mua và được ban hòa giải ấp cùng tổ chức cặm ranh đất giữa đất bà Dương Thị B với đất ông Vũ Thanh T. Nhận thấy, tại mục 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: “1. Phải có hành vi xâm phạm; 2. Phải có thiệt hại xảy ra; 3. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm”. Xét thấy, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cũng xác định không rõ cây trụ đá này của bà B hay của ông T nên không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh bà B bị thiệt hại về tài sản.

Mặt khác, theo người đại diện của nguyên đơn cho rằng ông Vũ Thanh T là người đã nhổ và lấy cây trụ đá của bà Dương Thị B nhưng lại xác định không ai nhìn thấy ông Vũ Thanh T là người nhổ và lấy cây trụ đá này đi mà chỉ dựa vào việc ông Vũ Thanh T là người xảy ra mâu thuẫn với gia đình bà Dương Thị B về sự việc buồng dừa và tranh chấp ranh đất là chưa có cơ sở. Nguyên đơn có yêu cầu xác minh ông Nguyễn Thanh P, ông Dương Thành L1, ông Nguyễn Thanh L2, yêu cầu trích lục tài liệu tại Công can xã N. Căn cứ biên bản xác minh ngày 04/02/2026 và ngày 09/02/2026, ông Nguyễn Thanh P, ông Dương Thành L1, ông Nguyễn Thanh L2 đều xác định không biết sự việc bà Dương Thị B bị mất cây trụ đá và cũng không biết ai là người lấy cây trụ đá này. Tại văn bản số 37/CAX-CSKV ngày 16/3/2026 của Công an xã N xác định không có tiếp nhận vụ việc hay đơn tố giác nào liên quan đến vụ mất cây trụ đá của đương sự bà Dương Thị B. Ngoài lời trình bày, nguyên đơn bà Dương Thị B không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh có thiệt hại và ông Vũ Thanh T là người gây thiệt hại tài sản của bà Dương Thị B.

Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố dụng dân sự quy định “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”. Từ những phân tích nêu trên nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về án phí: Bà Dương Thị B phải chịu án phí đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận nhưng do bà Dương Thị B là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí cho bà Dương Thị B.

[4] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Cà Mau là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét