NHẬN ĐỊNH CỦA
TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn còn trong hạn luật định; nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.
[2] Về nội
dung kháng cáo của nguyên đơn:
[2.1] Đối với yêu cầu của ông Diệp Đại Đức về việc buộc ông Biện Hữu Nam phải trả cho ông Đức tiền nợ gốc 300.000.000 đồng:
- Căn cứ Giấy xác nhận nợ lại ngày 20/12/2024 thể hiện ông Nam có nợ ông Đức số tiền 372.000.000đ, hẹn cuối tháng 3 thanh toán dứt điểm, đã được bị đơn ông Nam thừa nhận. Như vậy, việc ông Nam đã vay của ông Đức và còn nợ tiền gốc như đã nêu trên là có thật.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác nhận bị đơn đã trả được 14 tháng tiền lãi, chứ không phải chỉ trả được 12 tháng tiền lãi, mỗi tháng 9.000.000đ và xin rút nội dung kháng cáo này nên cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo về phần này.
[2.2] Đối với yêu cầu của ông Diệp Đại Đức về việc buộc ông Biện Hữu Nam phải trả cho ông Đức tiền lãi tính từ ngày 17/11/2023 đến ngày 03/02/2026 là 140.000.000 đồng), Hội đồng xét xử xét thấy:
Về lãi suất, các bên đều thừa nhận mức lãi suất các bên thỏa thuận là 3%/tháng. Theo Giấy xác nhận nợ lại có nội dung: “Tôi Biện Hữu Nam có nợ anh Đức 372.000.000 (ba trăm bảy mươi hai triệu đồng chẵn). Hôm nay ngày 20/12/2024 đến cuối tháng 3 thanh toán dứt điểm”. Không thể hiện thời hạn vay.
Tại Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền:
“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.
Tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay... Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Như vậy, tuy các bên có thỏa thuận lãi suất nhưng mức lãi suất 3%/tháng (tương đương 36%/năm) là vượt quá 16%/năm mức lãi suất giới hạn (20%/năm), nên mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Tại Điều 9 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý thỏa thuận về lãi, lãi suất cao hơn mức lãi, lãi suất được pháp luật quy định:
“Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền lãi đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay”.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: Tính đến ngày 17/10/2023, số tiền gốc ông Nam còn nợ ông Đức là 242.600.678 đồng và tiền lãi ông Nam phải thanh toán cho ông Đức trên nợ gốc tương ứng với số tiền 242.600.678 đồng, theo mức lãi suất 20%/năm tính từ ngày 18/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 03/02/2026 là 111.414.361 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đức, buộc ông Nam phải trả cho ông Đức tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi là 354.015.039 đồng, trong đó (tiền gốc 242.600.678 đồng, tiền lãi 111.414.361 đồng). Không chấp nhận yêu cầu của ông Đức buộc ông Nam phải trả số tiền 85.984.961 đồng (440.000.000đ – 354.015.039 đồng).
Tuy nhiên, việc tính số tiền gốc; tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn cũng như việc cấn trừ 09 tháng tiền lãi bị đơn đã trả cho nguyên đơn như trên là chưa đúng. Tòa án cấp phúc thẩm tính lại tiền lãi như sau:
- Nợ gốc 300.000.000đ; đã trả tiền lãi được 14 tháng là 126.000.000đ (14 tháng x 9.000.000đ); nợ trong hạn từ ngày vay 17/8/2022 đến thời hạn 06 tháng là ngày 17/02/2023; tính lãi suất 20%/năm: 300.000.000đ x 6 tháng x 1.66%/tháng = 30.000.000đ.
- Nợ quá hạn từ ngày 17/02/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 03/02/2026 là 02 năm 10 tháng và 16 ngày; tính lãi suất quá hạn là 150%/năm; Lãi quá hạn = lãi trong hạn x 150%: 300.000.000đ x 02 năm 10 tháng và 16 ngày x 30%/năm (2,5%/tháng) = 259.000.000đồng.
Như vậy: 30.000.000đ (Lãi trong hạn) + 259.000.000đ (Lãi quá hạn) = 289.000.000đ - 126.000.000đ (Đã trả lãi 14 tháng) = 163.000.000đ. Nợ gốc và lãi là: 300.000.000đ + 163.000.000đ = 463.000.000đồng.
Buộc bị đơn và người liên quan bà Đặng Thị Xuân Hạnh phải thanh toán cho nguyên đơn 463.000.000đồng là có căn cứ.
[2.3] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hạnh có quan hệ với ông Nam là vợ chồng, bà cũng đồng ý với ý kiến của ông Nam về đề nghị trả nợ cho ông Đức. Tại Điều 27 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định trách nhiệm liên đới của vợ, chồng:
“1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này”.
Do đó, bà Hạnh có trách nhiệm liên đới trả tiền vốn vay và tiền lãi như đã nêu trên cho ông Diệp Đại Đức.
[3] Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã xem xét, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện để giải quyết vụ án nên Tòa án cấp phúc thẩm có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; sửa bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nam, bà Hạnh phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 22.520.000đ. Ông Đức là người cao tuổi, nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Diệp Đại Đức không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ
trên,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét