NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: 

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Võ Minh N thực hiện đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm. 

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: ông Võ Công T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thuộc trường hợp quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án. 

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu xem xét lại mức bồi thường thiệt hại. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm. 

[4] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: ông Võ Công T khởi kiện yêu cầu ông Võ Minh N bồi thường chi phí điều trị, tiền xe, thu nhập bị mất, tổn thất về tinh thần và thu nhập của người chăm sóc. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” là có căn cứ, nhưng áp dụng khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự là không chính xác, mà cần căn cứ khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

 [5] Về việc áp dụng pháp luật về nội dung: sự việc đang có tranh chấp xảy ra vào ngày 02/01/2024. Do đó, áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật có liên quan để giải quyết vụ án. Xét kháng cáo của ông N yêu cầu xem xét lại tiền bồi thường thiệt hại 

[6] Hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại cấp sơ thẩm thể hiện: do có mâu thuẫn từ trước, vào ngày 02/01/2024, ông Võ Công T cầm cây sắt chạy sang sạp rau tại nhà của ông Võ Minh N, đánh ông N.

 [7] Tại phiên tòa phúc thẩm, người làm chứng là bà Nguyễn Thị D – là mẹ ruột của ông T và ông N xác định, khi ông T cầm cây đánh ông N, thì cây bị vướng dây điện của đèn thắp sáng, ông N đứng kế bên sạp rau ngồi thụp xuống né tránh; ngay sau đó, ông N vươn tay lấy con dao để trên sạp rau vung lên chém về phía ông T nên trúng vào cổ tay của ông T làm cho ông T bị thương. Như vậy, đủ căn cứ xác định cả hai đương sự đều thực hiện hành vi trái pháp luật, nên đều có lỗi; hậu quả xảy ra: ông T bị thương tích đứt gân tay phải và đã đến Bệnh viện Đ - C để điều trị (các bút lục số 16-106); về phía ông N trình bày có bị cây sắt trúng vào đầu đi chụp X-Q, citi, nhưng không cung cấp hóa đơn, chứng từ điều trị và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tại Thông báo kết luận giám định số 1846/TB-ĐTTH ngày 26/03/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thì tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông T tại thời điểm giám định là 03% (bút lục số 23). Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông N phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông T, là có căn cứ theo khoản 1 Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

 [8] Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không đánh giá lỗi gây ra thiệt hại theo Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 là thiếu sót. Xét về mức độ lỗi, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: căn cứ trình bày của những người làm chứng tại cấp phúc thẩm, thì ông T là người đã cầm hung khí nguy hiểm (cây sắt dài khoảng 1m – loại dùng để neo giàn giáo xây dựng), chạy sang nhà của ông N và đánh ông N trước, từ đó mới dẫn đến việc ông N cầm dao chém về phía ông T, trúng tay phải của ông T dẫn đến thương tích. Do đó, ông N có mức độ lỗi ít hơn ông T, nên cần buộc ông N phải bồi thường 30% thiệt hại cho ông T, còn ông T phải tự chịu 70% thiệt hại do bản thân ông cũng có lỗi, là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 585 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

 [9] Về xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: 

  • [9.1] Tòa án cấp sơ thẩm xác định chi phí ông T đã chi tổng cộng số tiền 31.315.758 đồng để khám, chữa bệnh và tiền thuốc điều trị theo chứng từ của bệnh viện và tiền thuê xe, cụ thể: 
    • chi phí điều trị 16.370.225 đồng, 
    • chi phí tái khám 7.687.133 đồng, 
    • chi phí tập vật lý trị liệu 1.783.400 đồng, 
    • chi phí xét nghiệm 975.000 đồng; 
    • tiền thuê xe đi điều trị 4.500.000 đồng (300.000đ x 15 lần), là có căn cứ.
  •  [9.2] Về thu nhập thực tế của ông T bị mất: tại cấp sơ thẩm, ông N đồng ý xác định thu nhập của ông T mỗi ngày là 350.000 đồng, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ mức tiền công này để tính thu nhập bị mất của ông T, là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T đã thừa nhận rằng, ông đã đi làm lại sau 2-3 tháng, điều này phù hợp với kết quả Phiếu kết quả điện cơ của Bệnh viện C xác định “chưa ghi nhận bằng chứng tổn thương các dây thần kinh đã khảo sát ở tay phải” (bút lục số 31). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời gian thu nhập của ông T bị mất là 02 tháng, tính từ ngày bị gây thương tích là 02/01/2024 đến ngày 01/3/2024, là có căn cứ. Ông T làm thợ hồ, bản thân ông cũng thừa nhận rằng thời gian làm việc trong tháng không liên tục, nên Tòa án cấp sơ thẩm tính ngày công trong 1 tháng của ông T là 20 ngày, xác định thu nhập bị mất 14.000.000 đồng, là phù hợp với thực tế lao động của ông T. 
  • [9.3] Về phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc: Tòa án cấp sơ thẩm tính thu nhập thực tế bị mất của vợ của ông T trong thời gian chăm sóc ông T điều trị ở bệnh viện 09 ngày, là có căn cứ, nhưng tính tiền thu nhập bị mất 500.000 đồng/ngày là không đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Căn cứ theo khoản 1, khoản 2 Điều 3 ngày 12/6/2022 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và Mục 1 Phụ lục ban hành kèm theo 38/2022/NĐ-CP, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh) thuộc vùng II, tương ứng với mức lương tối thiểu là 4.960.000đ/tháng (=191.000đ/ngày). Như vậy, thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc là 1.719.000 đồng (= 191.000đ/ngày x 9 ngày).
  • [9.4] Như vậy, tổng thiệt hại của ông T do sức khỏe bị xâm phạm là 47.034.758 đồng (= 31.315.758đ + 14.000.000đ + 1.719.000đ). Ông T có lỗi, tự chịu 70% thiệt hại, nên buộc ông N phải bồi thường cho ông T 30% mức thiệt hại với số tiền quy tròn là 14.110.000 đồng (= 47.034.758 đồng x 30%). 
  • [9.5] Về số tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần: Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức bồi thường 02 tháng lương cơ sở tại thời điểm xảy ra thiệt hại, số tiền 5.680.000 đồng, là có căn cứ, tương xứng với mức độ lỗi và thiệt hại đã xảy ra, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015
  • [9.6] Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T chỉ yêu cầu tính tiền xe chở nhập viện và tái khám với giá 300.000đ/chuyến x15 chuyến và tiền bù đắp tổn thất tinh thần giảm còn 15 tháng cơ sở (bút lục số 116). Tổng số tiền ông T yêu cầu bồi thường thiệt hại và bù đắp tổn thất tinh thần giảm còn 249.322.988 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ trên số tiền yêu cầu khởi kiện ban đầu 338.722.988 đồng, chấp nhận yêu cầu của ông T số tiền 55.495.790 đồng, bác yêu cầu của ông T là 283.227.198 đồng, là chưa chính xác. Như vậy, tổng số tiền ông T yêu cầu không được chấp nhận được xác định là 229.532.988 đồng (= 249.322.988đ – 14.110.000đ – 5.680.000đ), quy tròn là 229.533.000 đồng. 

[10] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận. 

[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm thuộc trường hợp miễn án phí, nên ông Võ Công T được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu bị bác. Ông Võ Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền được Tòa án chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 

[12] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận 01 phần nên ông Võ Minh N không phải chịu án phí phúc thẩm. Vì các lẽ trên,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét