NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Xét nội dung kháng cáo của ông Trần Minh Triển, HĐXX thấy:

  • Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Minh Triển đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hải Phòng nhưng thực tế cư trú tại thôn Thanh Văn 1, xã Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi thực hiện hợp đồngnơi cư trú của bị đơn để giải quyết. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Bắc Ninh thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” là đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2]. Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, HĐXX thấy:

  • Cả bà Lại Thị Hồng Minh và ông Trần Minh Triển đều xác nhận có giao kết hợp đồng thuê đất ngày 01/5/2022, các thỏa thuận về giá thuê, thời hạn, phương thức thanh toán, phạt vi phạm được các bên thừa nhận. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3]. Về hình thức và điều kiện giao kết:

  • Hợp đồng được lập thành văn bản, có chữ ký của các bên. Các bên tham gia giao kết đều có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức và không vi phạm điều cấm.

[4]. Về nội dung của hợp đồng:

  • Sau khi ký hợp đồng, bà Minh mới phát hiện thửa đất bà thuê thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Tất Thắng chứ không thuộc quyền của ông Triển. Do đó, đối tượng của hợp đồng thuê đất không thể thực hiện được. Khoản 1 Điều 408 Bộ luật Dân sự quy định: “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.”. Do vậy, hợp đồng thuê đất giữa bà Minh và ông Triển bị vô hiệu. Bản án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là có căn cứ.

[5]. Xét yêu cầu về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

  • Tại biên bản thỏa thuận ngày 24/12/2023, hai bên xác định tổng số tiền thuê đất đã đối trừ và thanh toán đến ngày 30/4/2027 là 1.080.000.000 đồng (bao gồm khoản bồi thường tài sản mất mát 1.035.000.000 đồng và 45.000.000 đồng tiền mặt bà Minh chuyển khoản). Do hợp đồng vô hiệu, bà Minh yêu cầu hoàn trả tiền là có căn cứ.
  • Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện thay đổi nội dung yêu cầu, chỉ đề nghị bị đơn trả số tiền 1.035.000.000 đồng và không yêu cầu đòi lại số tiền 45.000.000 đồng. Xét thấy việc thay đổi này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, HĐXX phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Minh Triển, sửa bản án sơ thẩm về phần nghĩa vụ hoàn trả tiền như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[6]. Về lỗi dẫn đến sửa bản án:

  • Việc sửa bản án sơ thẩm là do có tình tiết mới (nguyên đơn rút một phần yêu cầu đòi tiền) tại phiên tòa phúc thẩm, nên cấp sơ thẩm không có lỗi.

[7]. Về án phí:

  • Do kháng cáo được chấp nhận một phần, ông Trần Minh Triển không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét