NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, một số đương sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có giấy xin xét xử vắng mặt hoặc đã có giấy ủy quyền. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhận dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phiên tòa xét xử phúc thẩm vắng mặt những đương sự này.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn M (do bà Nguyễn Thị Thanh L làm Giám đốc) khởi kiện yêu cầu Cục tỉnh T trả tiền chậm hoàn thuế cho Công ty tổng cộng 9.596.634.463 đồng đối với 07 kỳ thuế: tháng 8/2022 là 1.397.168.557 đồng; tháng 9/2022 là 1.627.751.119 đồng; tháng 10/2022 là 2.180.380.522 đồng; tháng 11/2022 là 1.742.577.958 đồng; tháng 12/2022 là 710.006.307 đồng; tháng 01/2023 là 1.233.750.000 đồng và tháng 02/2023 là 705.000.000 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty M: yêu cầu Cục Thuế tỉnh T trả lãi do chậm hoàn thuế đối với các kỳ thuế tháng 8,9,10,11,12/2022 và tháng 1,2/2023 theo khoản 2 Điều 75 Luật Quản lý thuế, thấy rằng: Theo hồ sơ thể hiện và sự thừa nhận của Cục tỉnh T, Cục T có ban hành 07 Quyết định hoàn thuế cho Công ty TNHH M chậm thời hạn so với quy định tại khoản 3 Điều 75 Luật Quản lý thuế. Kỳ hoàn thuế tháng 8, 9/2022: Trong quá trình kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, Cục Thuế tỉnh T đã nhận được nhiều văn bản cảnh báo của các cơ quan thuế quản lý các doanh nghiệp trung gian đầu vào của Công ty TNHH M về rủi ro trong quản lý thuế. Cơ quan điều tra có thẩm quyền cũng để nghị C cung cấp thông tin hồ sơ, chứng từ hoàn thuế giá trị gia tăng của Công ty TNHH M từ 01/01/2022 đến 31/12/2022 để phục vụ điều tra đối với Công ty N (Công ty cung cấp hàng hóa cho Công ty M).
Như vậy, việc Cục tỉnh T ra quyết định hoàn thuế cho Công ty M bị chậm trễ là do cần có thời gian kiểm tra, xác minh các chứng từ của Công ty và cung cấp hồ sơ phối hợp với cơ quan có thẩm quyền; đây là lý do khách quan nên việc Công ty TNHH M yêu cầu Cục bồi thường theo khoản 3 Điều 75 Luật Quản lý thuế là không phù hợp vì việc chậm trễ không phải lỗi của Cục Đối với các kỳ hoàn thuế tháng 10, 11, 12/2022 và tháng 01, 02/2023:
- Theo Quyết định số 1927, ngày 29/12/2023 của Cục tỉnh T về việc giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH M đã kết luận: Phòng T2 và Đoàn kiểm tra trước hoàn thuế tại Công ty TNHH M thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định về kiểm tra trước hoàn thuế... theo đúng trình tự, thủ tục của Quy trình Kiểm tra thuế ... Đến ngày 03/4/2024, Cục ra quyết định kiểm tra trước hoàn thuế đối với các kỳ hoàn thuế tháng 10, 11, 12/2022 và kỳ tháng 01, 02/2023 đối với Công ty. Qua kiểm tra thì Công ty M còn nợ tiền thuế 16.370.524.560 đồng.
- Tại Biên bản ngày 15/5/2024, Công ty đã trình bày: không đồng ý bù trừ số tiền thuế Công ty còn nợ là 16.370.524.560 đồng vào các đợt hoàn thuế này và chờ kết luận của Công an đối với Công ty N. Việc hoàn thuế chậm so với thời gian quy định Công ty cam kết không bồi thường thiệt hại đối với Đoàn kiểm tra.
- Đến ngày 18/6/2024, Công ty M có Công văn xác nhận chấp nhận việc bù trừ số tiền thuế mà Công ty còn nợ 16.370.524.560 đồng. Đến ngày 24/6/2024, Cục T ra quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ ngân sách cho Công ty đối với kỳ thuế tháng 11/2022: theo đó số tiền được hoàn thuế là 20.744.975.695 đồng; số tiền thu bù trừ là 16.370.524.560 đồng; số tiền được hoàn sau khi bù trừ là 4.374.451.135 đồng.
- Ngày 26/6/2024, С tiếp tục ra quyết định hoàn thuế đối với các kỳ thuế tháng 10, 12/2022 và tháng 01, 02/2023. Như vậy, trước khi Cục ra quyết định hoàn thuế, Cục và Công ty có khoảng thời gian không thống nhất việc khấu trừ số tiền thuế 16.370.524.560 đồng mà Công ty còn nợ do liên quan đến Công ty N; Công ty cũng thừa nhận còn nợ thuế số tiền này nhưng không đồng ý bù trừ. Sau đó, Công ty đồng ý khấu trừ nên Cục T3 và ra quyết định hoàn thuế đối với số tiền còn lại. Do đó, việc Cục hoàn thuế chậm không phải lỗi hoàn toàn của Cục
- Công ty cũng đã xác nhận không yêu cầu bồi thường do việc hoàn thuế chậm so với thời gian quy định nên việc Công ty yêu cầu Cục thuế bồi thường đối với các kỳ hoàn thuế này là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bác toàn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH M là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận.
- Quan điểm của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với chứng cứ tài liệu có trong hồ soơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty TNHH M được miễn án phí. Vì các lẽ trên,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét