NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

  • [1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn xin lỗi công khai; bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Buộc xin lỗi công khai; Tranh chấp bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại” theo khoản 6 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có nơi cư trú tại phường B, tỉnh Khánh Hòa, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.
  • [1.2] Người làm chứng ông Huỳnh Văn H1 vắng mặt không có lý do; bà Dương Thị R xin vắng mặt. Căn cứ Điều 229 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung vụ án:

  • [2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận: Vào ngày 12/9/2025 và ngày 16/10/2025, tại nhà bà N ở tổ dân phố C, phường P, tỉnh Khánh Hòa, bà H đã có hành vi to tiếng và có nói bà N làmày đéo thằng giữ xe dưới biển cả xã hội đều biết mày tốt đẹp gì...”; “mày xuống mày nằm cho cái thằng giữ xe đéo mày chứ ở đâu ai mà không biết, mày đi mày khoe tùm lum a, đồ có cái ông H1 mặt ông chành rành ông mới chấp nhận mày chứ, đồ cái thứ mày thúi cả xã hội luôn…tao banh cho cả làng biết luôn…” nên thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • [2.2] Bà N cho rằng không có mâu thuẫn gì với bà H, nhưng trong thời gian chơi chung cùng nhau bà nhận thấy bà H thường xuyên quan tâm quá mức tới chuyện riêng tư gia đình của bà nên bà không muốn kết bạn, chặn zalo, facebook. Thì bà H lại nhắn tin cho ông H1 là chồng bà để nói xấu và đến nhà chửi bà, dẫn đến vợ chồng bà xảy ra nhiều mâu thuẫn. Do bị bà H bôi nhọ, xúc phạm, danh dự, uy tín nên bà suy nghĩ nhiều, tinh thần căng thẳng nghiêm trọng phải sử dụng thuốc để điều trị. Bà yêu cầu bà H phải xin lỗi công khai bà tại phiên tòa và bồi thường tổn thất về tinh thần cho bà bằng 8 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định, tương đương số tiền 18.720.000 đồng.
  • [2.3] Bà H thừa nhận việc bà nói bà N như vậy là không có căn cứ, do trong lúc nóng giận không kiềm chế được, bà nhận thức lời nói, hành động của mình là sai. Nội dung màn hình tin nhắn Zalo tại bút lục số 8, số I là tin nhắn của bà gửi cho ông H1. Bà xác nhận nội dung bà viết ra có câu từ chưa chuẩn mực, thô tục, xúc phạm danh dự bà N…Nhưng nguyên nhân của sự việc là do khoảng cuối tháng 8/2025 vợ chồng bà N, ông H1 có mâu thuẫn và bà N cho rằng do bà đã nói xấu bà N với ông H1 và là người xúi ông H1 đánh đập bà N. Khoảng tháng 10/2025 thì bà N lại nói bà là tạt axit nên ông H1 có gọi điện thoại chửi bà nên bà mới đi về P để gặp bà N nhưng bà N không chịu gặp bà để nói chuyện, giải quyết rõ mọi việc nên bà mới đi đến nhà tìm bà N và xảy ra việc to tiếng nêu trên. Bà đồng ý xin lỗi bà N tại phiên tòa và do bà N cũng có một phần lỗi nên bà chỉ đồng ý bồi thường tổn thất về tinh thần do bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín cho bà N bằng 04 lần mức lương sơ sở do Nhà nước quy định là 9.360.000 đồng.

[3] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy việc bà H có lời nói chưa đúng, to tiếng, chửi tục bà N là xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà N và gây mất trật tự tại nơi công cộng, mặc dù đã được Công an phường P, tỉnh Khánh Hòa giải quyết, hòa giải nhưng vẫn tái diễn. Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật dân sự, thì danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Bà N yêu cầu bà H phải công khai xin lỗi bà tại phiên tòa; bà H đồng ý xin lỗi bà N tại phiên tòa, các đương sự đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận trên. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Theo quy định tại khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự thìNgười chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi xâm phạm của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần của bà N, buộc bà H bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần cho bà N bằng 04 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (là 2.340.000 đồng), tương đương với số tiền 9.360.000 đồng là phù hợp.

[5] Quá trình giải quyết vụ án bà N khai khi bà H đến nhà chửi bà thì bà có nói bà H làcon tiểu tam; phá ra cang; Bà H có ý kiến trình bày về việc bà N chửi bà là “con đĩ”, “mày đi nhậu mày đéo hết mấy ông bạn ông H1”, “con đĩ tiểu tam phá ra cang của tao”... Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết sự việc trên, nếu có yêu cầu bà sẽ khởi kiện bằng vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định trên, phù hợp với các quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Đối với yêu cầu không được chấp nhận nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là về bồi thường danh dự nhân phẩm, uy tín và có đơn xin miễn án phí, do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét