NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/7/2017 xác định trên thửa đất số 474, tờ bản đồ số 41, tại phường C có ngôi nhà ông P cho ông V thuê từ năm 2013 để kinh doanh. Bà B (vợ của ông V) xác định ông P đã chuyển nhượng cho vợ chồng bà nhà, đất thuộc thửa đất số 474, tờ bản đồ số 41, tại phường C, thành phố H và bà N cung cấp được các tài liệu chứng cứ có L quan đến việc chuyển nhượng nhà đất là Biên bản thỏa thuận ngày 14/9/2009 giữa ông P và bà L về việc phân chia tài sản; Hợp đồng mua bán ngày 26/9/2009 giữa ông P và bà N, ông V; Hợp đồng ủy quyền ngày 22/10/2014 giữa ông P và bà N, có công chứng; Giấy chuyển nhượng nhà và đất ngày 12/11/2014 ký tên ông P, thể hiện việc vợ chồng ông P và bà L đã lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản, sau đó ông P chuyển nhượng cho vợ chồng bà N ngôi nhà gắn liền thửa số 474 tại phường C mà ông P đã được phân chia.
Sau khi ông P được giao lại thửa đất số 474 diện tích 57,4m2 tại phường C theo Quyết định giao đất số 272/QĐ-UBND ngày 25/01/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Q, ông P tiếp tục lập “Hợp đồng ủy quyền” ngày 22/10/2014, thời hạn ủy quyền 10 năm; nội dung ủy quyền cho bà N được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt đối với thửa đất và “Giấy chuyển nhượng nhà và đất” ngày 12/11/2014, ông P cam kết sẽ nộp đủ tiền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao lại cho vợ chồng bà N, ông V.
Nội dung đơn đề nghị giám đốc thẩm của bà B và các tài liệu do bà N cung cấp L quan đến việc chuyển nhượng nhà đất giữa ông P và vợ chồng bà N nêu trên phù hợp với lời trình bày của ông P “Thửa đất số 474 đang cho ông V thuê để kinh doanh, khi nào làm được giấy tờ sẽ bán đất cho ông V” tại Bản án dân sự phúc thẩm số 07/2017/DS-PT ngày 16/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Q về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và phù hợp với thực tế hiện nay vợ chồng bà N, ông V là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất.
Như vậy, ngày 14/9/2009, ông P và bà L đã lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản, sau đó ông P thực hiện quyền định đoạt chuyển nhượng nhà đất đã được phân chia cho vợ chồng bà N thể hiện tại Hợp đồng mua bán ngày 26/9/2009, Hợp đồng ủy quyền ngày 22/10/2014, Giấy chuyển nhượng nhà và đất ngày 12/11/2014; ông P đã nhận số tiền 1.350.000.000 đồng và vợ chồng bà N đang trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất. Theo Giấy chuyển nhượng nhà và đất ngày 12/11/2014, ông P cam kết sẽ nộp thuế, tiền sử dụng đất để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao lại cho bà N, ông V. Tuy nhiên, ông P không nộp đủ tiền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà N theo đúng hợp đồng thỏa thuận, mà lại thỏa thuận với bà L về nội dung nộp tiền sử dụng đất, phí, lệ phí để được sử dụng thửa đất tại số 99, tổ 12, khu 2A, phường C là không đúng trách nhiệm đã thỏa thuận với vợ chồng bà N.
Tòa án cấp sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận của ông P và bà L; không đưa vợ chồng bà B, ông V tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan là không đúng quy định tại Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà N, ông V và không giải quyết được toàn diện, triệt để vụ án. Ngoài ra, theo báo cáo của Tòa án nhân dân thành phố H, ngày 09/01/2019 Tòa án nhân dân thành phố H đã thụ lý vụ án dân sự về việc ông P yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ngày 26/9/2009 giữa ông P và vợ chồng bà N.
Do đó, khi giải quyết lại vụ án chia tài sản chung
sau khi ly hôn giữa ông P với bà L, Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét việc nhập vụ
án theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết toàn diện,
triệt để vụ án đúng quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét