NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [A].Về tố tụng: - Về các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và các Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. - Về việc xác định bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Kết quả điều tra đã xác định, có 25.853 nhà đầu tư đứng tên 30.403 tài khoản chứng khoản đã mua cổ phiếu ROS đọt bán ra ban đầu từ Trịnh Văn Quyết và các đồng phạm. Họ là những người đã bỏ tiền thật ra mua cổ phiếu ROS, mà không biết Trịnh Văn Quyết và các bị cáo khác đã dùng thủ đoạn gian dối để nâng khống giá trị cổ phiếu, chiếm đoạt tiền của mình. Tội phạm đã được hoàn thành tại thời điểm các bị cáo chiếm đoạt 3.621.082.083.518 đồng của các nhà đầu tư. Vì vậy, 25.853 nhà đầu tư đã mua cổ phiếu ROS bán ra ban đầu nêu trên được xác định là bị hại của vụ án. Cổ phiếu ROS được niêm yết trên sàn HOSE từ ngày 01/9/2016 đến ngày 05/9/2022 thì bị huỷ niêm yết. Đến nay, có 63.075 nhà đầu tư đang sở hữu cổ phiếu ROS. Những nhà đầu tư này không trực tiếp mua cổ phiếu của nhóm Trịnh Văn Quyết và các đồng phạm đợt bán ra ban đầu, không bị các bị cáo lừa đảo trực tiếp nên không xác định là bị hại trong vụ án. Tuy nhiên, họ là những người đang sở hữu cổ phiếu bị nâng khống giá trị, phần nào chịu hậu quả từ các hành vi đó. Vì vậy, cần xác định những người này là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ. - Về việc triệu tập những người tham gia tố tụng: Trong vụ án này, có 25.853 bị hại và trên 63.075 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, số lượng người tham ra tố tụng rất lớn, hành vi của các bị cáo thực hiện trên thị trường chứng khoán nên Toà án đã Thông báo về việc mở phiên toà cho những người tham gia tố tụng qua phương tiện thông tin đại chúng trên các kênh Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Công lý điện tử, Cổng Thông tin điện tử của Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, Trang Thông tin điện tử của Toà án nhân 84 dân thành phố Hà Nội; đồng thời Toà án đã niêm yết Thông báo mở phiên toà tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, kết hợp với việc gửi giấy triệu tập trực tiếp cho các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. [B].Về nội dung: I. Về tội danh đối với các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, về cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; sao kê dữ liệu điện tử, tài liệu do các cơ quan hữu quan cung cấp, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: 1. Hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và các hành vi phạm tội khác xảy ra tại Công ty FAROS và các đơn vị liên quan: Với mục đích chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư để sử dụng vào mục đích riêng của mình; Trịnh Văn Quyết đã sử dụng Công ty Faros làm công cụ, chỉ đạo Doãn Văn Phương và Trịnh Thị Minh Huế thực hiện hành vi gian dối tăng khống vốn góp chủ sở hữu tại Công ty Faros từ 1,5 tỷ đồng lên 4.300 tỷ đồng sau đó hoàn thiện các thủ tục để niêm yết cổ phiếu tương ứng với giá trị vốn góp khống của Công ty Faros trên sàn chứng khoán; sử dụng sàn HOSE làm công cụ, phương tiện bán cổ phiếu, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư. Để chiếm đoạt được tiền, Trịnh Văn Quyết giao Doãn Văn Phương và Trịnh Thị Minh Huế trực tiếp chỉ đạo và điều hành toàn bộ hoạt động để hợp thức hồ sơ nâng vốn khống; trực tiếp nhờ một số cá nhân đứng tên là cổ đông nhận chuyền nhượng cổ phần của Công ty Faros, gồm: Trần Thế Anh, Lê Thành Vinh, Hương Trần Kiều Dung, Nguyễn Thiện Phú, Đặng Thị Hồng, Nguyễn Văn Thanh. Các bị cáo thuộc Công ty Faros, Công ty kiểm toán, người thân quen của Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế... đã thực hiện chỉ đạo của Doãn Văn Phương và Trịnh Thị Minh Huế ký hợp thức các thủ tục nâng khống vốn góp và hợp thức sử dụng vốn góp khống; ghi nhận thông tin gian đối này vào Báo cáo tài chính kiểm toán, Bản cáo bạch để hoàn thiện hồ sơ niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn chứng khoán. Các bị cáo thuộc Vụ Giám sát công ty đại chúng UBCKNN, VSD và sần HOSE đã sử dụng những thông tin gian dối trên Báo cáo tài chính kiểm toán và hồ sơ tài liệu của Công ty Faros cung cấp để chấp thuận công ty đại chúng, đăng ký chứng khoán và niêm yết 430 triệu cổ phiều ROS trên sàn HOSE. Với động cơ, mục đích, thủ đoạn nêu trên, Trịnh Văn Quyết đã sử dụng sàn HOSE làm phương tiện để bán 391.155.480 cổ phiếu hình thành từ vốn góp nâng khống cho 25.853 nhà đầu tư trên sàn chứng khoán, chiếm đoạt 3.621.082.083.518 đồng. Để xảy ra hậu quả trên, có sự tham gia giúp sức tích cực của các bị cáo khác trong vụ án vào quá trình nâng khống vốn góp, uỷ thác đầu tư, nhận uỷ thác đầu tư, hợp thức dòng tiền từ vốn góp khống; xác định vốn góp khống; chấp thuận niêm yết cổ phiếu để tạo điều kiện giúp Trịnh Văn Quyết và đồng phạm bán cổ phiếu được hình thành từ vốn góp chủ sở hữu khống, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. Cụ thể: - Các bị cáo gồm: Trịnh Thị Thúy Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung, Đỗ Như Tuẩn, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Văn Thanh, Đàm Mai Hương, Nguyễn Bình Phương, Hoàng Thị Thu Hà, Nguyễn Tiến Dũng, Lê Thành Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Lê Tân Sơn, 85 TOA DAN Trần Thế Anh, Đặng Thị Hồng, Lê Văn Sắc, Trương Văn Tài, Nguyễn Minh Điểm, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thanh Hương, Phạm Thị Hải Ninh, Nguyễn Thiện Phú đã giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế ký thủ tục hợp thức hồ sơ nâng khống vốn góp của Công ty FAROS thuộc HĐQT, Ban Tổng Giám đốc, Kế Toán, nhân viên Công ty FAROS; Các bị cáo là những người thân, quen, nhân viên thuộc Tập đoàn FLC, công ty con, công ty liên kết của Tập đoàn FLC biết rõ các cổ đông Công ty Faros không góp vốn như cam kết, nhưng vẫn ký các thủ tục (nghị quyết tăng vốn, ủy thác đầu tư; chứng từ chuyển tiên; hợp đồng chuyển nhượng/nhận chuyển nhượng cổ phần; hợp đồng ủy thác đầu tư...) giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế và các bị cáo khác hợp thức việc góp vốn, sử dụng vốn góp, tạo dòng tiền để ghi nhận tăng vốn góp chủ sở hữu từ 1,5 tỷ đồng lên thành 4.300 tỷ đồng trong số sách kế toán và Báo cáo tài chính của Công ty FAROS trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết và đồng phạm hoàn thiện thủ tục niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn chứng khoán, bán cổ phiếu cho 25.853 nhà đầu tư chiếm đoạt 3.621.082.083.518 đồng. - Các bị cáo Nguyễn Ngọc Tỉnh, Lê Văn Tuấn (thuộc Công ty TNHH Kếtoán và Kiểm toán Hà Nội) và bị cáo Trần Thị Hạnh (thuộc Công ty TNHH Kiểm toán ASC) biết rõ thủ tục kiểm toán và các bằng chứng kiểm toán chưa đầy đủ để làm cơ sở đưa ra ý kiến chấp thuận toàn phần đối với các Báo cáo tài chính của Công ty CP Faros nhưng vẫn chấp thuận toàn phần Báo cáo tài chính kiểm toán trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết hoàn thiện thủ tục niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn chứng khoán, hành vi của các bị cáo này đã giúp sức, tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết và đồng phạm bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư chiếm đoạt 3.621.082.083.518 đồng. - Bị cáo Lê Công Điền (thuộc Vụ Giám sát công ty đại chúng – UBCKNN) và các bị cáo Dương Văn Thanh, Phạm Trung Minh (thuộc Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam) là những người có chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn trong việc công nhận công ty đại chúng, đăng ký chứng khoán cho Công ty Faros. Các bị cáo này biết rõ hồ sơ đề nghị chấp thuận công ty đại chúng và đăng ký chứng khoán của Công ty Faros chưa đủ cơ sở xác định số vốn thực góp là 4.300 tỷ đồng nhưng vẫn đồng ý chấp thuận Công ty Faros là công ty đại chúng có số vốn góp là 4.300 tỷ đồng và 114 cổ đông; đăng ký cổ phiếu ROS với số lượng 430 triệu cổ phiếu, có tổng giá trị là 4.300 tỷ đồng trái pháp luật và đăng thông tin sai lệch này trên thị trường chứng khoán, sau đó số cổ phiếu đã được bán cho các nhà đầu tư trên sàn HOSE, để Trịnh Văn Quyết và đồng phạm chiếm đoạt, góp phần gây thiệt hại cho các nhà đầu tư số tiền 3.621.082.083.518 đồng. - Các bị cáo gồm Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ và Lê Thị Tuyết Hằng (thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) là những người có chức vụ, quyền hạn trong việc chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên sàn HOSE, biết rõ chưa đủ cơ sở xác định số vốn thực góp của Công ty Faros là 4.300 tỷ đồng theo các Báo cáo tài chính kiểm toán và Công văn số 4298 ngày 01/7/2016 của UBCKNN nhưng vì Trần Đắc Sinh có quan hệ cá nhân với Trịnh Văn Quyết đã nhận lời làm nhanh hồ sơ niêm yết của Công ty Faros nên đã tác động đến các bị cáo khác là Lê Hải Trà, Trầm Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng để các bị cáo này đồng ý niêm yết 430 triệu cổ phiếu ROS trên sàn HOSE trái pháp luật, góp phần gây thiệt hại cho các nhà đầu tu 3.621.082.083.518 đồng. 2. Hành vi phạm tội “Thao túng thị trường chứng khoán” 86 HANH Với mục đích thu lợi bất chính trên thị trường chứng khoán thông qua các cổ phiếu đã niêm yết của các Công ty trong Tập đoàn FLC, Trịnh Văn Quyết chi đạo Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân của 45 cá nhân là người thân, nhân viên thuộc Tập đoàn FLC, gồm các bị cáo: Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Văn Nam, Nguyễn Quang Trung, Trịnh Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Đỗ Thị Huyền Trang, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung và các cá nhân khác để thành lập, đứng tên 20 doanh nghiệp và mở 500 tài khoản chứng khoán đứng tên các cá nhân, pháp nhân (trong đó Trịnh Văn Quyết đứng tên 23 tài khoản chứng khoán) tại 41 công ty chứng khoán và chỉ đạo Trịnh Thị Minh Huế để Huế chỉ đạo Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản do Huế quản lý, sử dụng để Trịnh Thị Minh Huế thực hiện các hành vi thao túng thị trường chứng khoán đối với 05 mã cổ phiếu AMD, HAI, GAB, FLC, ART_nhu: liên tục mua bán cùng loại chứng khoán; mua bán khớp nội nhóm (không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu); mua bán với khối lượng lớn, chỉ phối thị trường vào thời điểm mở của đóng cửa; (đặt lệnh mua/bán sau đó hủy lệnh... nhằm tạo ra cung cầu giả tạo, thao túng thị trường chứng khoán đối với 05 mã cổ phiếu nói trên, thu lợi bất chính số tiền 723.322.534.069 đồng. Cụ thể: cổ phiếu AMD trong giai đoạn từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017, thu lợi bất chính 39.075.817.133 đồng; cổ phiếu HAI trong giai đoạn từ ngày 26/6/2017 đến ngày 09/02/2018, thu lợi bất chính 238.885.676.049 đồng; cổ phiếu GAB trong giai đoạn từ ngày 19/12/2019 đến ngày 27/11/2020, thu lợi bất chính 3.437.787.029 đồng; cổ phiếu FLC trong giai đoạn từ ngày 23/9/2020 đến ngày 10/01/2022, thu lợi bất chính 397.338.681.335 đồng; cổ phiểu ART trong giai đoạn từ ngày 02/01/2021 đến ngày 11/6/2021, thu lợi bất chính 44.584.572.523 đồng. Trong đó, riêng mã chứng khoán AMD thực hiện hành vi thao túng trong giai đoạn từ ngày 26/5/2017 đến ngày 13/7/2017 thu lợi bất chính 39.075.817.133 đồng, trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành, Cơ quan CSĐT Bộ Công an đã đề nghị Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) xử lý theo quy định tại Điều 29 Nghị định 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc Trịnh Văn Quyết và Trịnh Thị Minh Huế nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm. Do đó, Trịnh Văn Quyết và đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự số tiền thu lợi bất chính của 04 mã chứng khoán HAI, GAB, ART và FLC là 684.246.716.936 đồng. Để Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thúy Nga thao túng thị trường chứng khoán, thu lợi bất chính hơn 684 tỷ đồng có sự tham gia giúp sức tích cực của các bị cáo trong Tập đoàn FLC trong việc ký nghị quyết, chỉ đạo cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng mua chứng khoán không có tài sản đảm bảo (cấp khống tiền) trái pháp luật; các bị cáo cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân để thành lập công ty, mở các tài khoản chứng khoán để thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính trên sản chứng khoán, cụ thể: - Các bị cáo Hương Trần Kiều Dung, Chu Tiến Vượng (thuộc HĐQT) và Nguyễn Quỳnh Anh (Tổng Giám đốc Công ty BOS) biết rõ việc Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống sức mua cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý sử dụng là trái pháp luật; đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không chấm dứt mà vẫn tham 87 mưu, đề xuất, chấp thuận cho Trịnh Thị Thúy Nga được cấp khống tiền cho các tài khoản Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán trái pháp luật, từ đó giúp Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính với số tiền đặc biệt lớn. - Các bị cáo, gồm: Nguyễn Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Thu Thơm và Bùi Ngọc Tú (thuộc Phòng Dịch vụ chúng khoán) và 02 bị cáo, gồm: Quách Thị Xuân Thu và Trần Thị Lan (thuộc Phòng kế toán Công ty BOS) biết rõ Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý sử dụng là trái pháp luật nhưng vẫn cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Thúy Nga chỉ định để Trịnh Thị Minh Huế thao túng thị trường chứng khoán và thanh toán bù trừ cho những tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế mua chứng khoán thiếu tiền trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính với số tiền đặc biệt lớn. Các bị cáo, gồm: Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Văn Nam, Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Thị Hồng Dung, Trịnh Thị Thanh Huyền, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ và Đỗ Thị Huyền Trang là người thân, quen, nhân viên của Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thúy Nga đã cho Trịnh Thị Minh Huế mượn giấy tờ cá nhân để thành lập công ty, mở các tài khoản chứng khoán, ký chứng từ chuyển tiền, rút tiền từ những tài khoản chứng khoán do Huế sử dụng thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính với số tiền đặc biệt lớn. * Hành vi phạm tội của từng bị cáo cụ thể như sau: (1). Trịnh Văn Quyết: Là chủ mưu, quyết định, chỉ đạo thực hiện mua Công ty Faros; quyết định, chỉ đạo góp vốn khống, sử dụng vốn góp khống để hợp thức việc nâng khống, sử dụng vốn góp khống của Công ty Faros từ 1,5 tỷ đồng lên thành 4.300 tỷ đồng, đăng ký công ty đại chúng, đăng ký chứng khoán và niêm yết cổ phiếu trên sản HOSE, bán 391.155.480 cổ phiếu ROS hình thành từ vốn góp nâng khống cho 25.853 nhà đầu tư, chiếm đoạt 3.621.082.083.518 đồng. Chỉ đạo thực hiện mở, quản lý, sử dụng các tài khoản chứng khoán; quyết định, chỉ đạo việc cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý sử dụng để thao túng 05 mã chứng khoán thu lợi bất chính 723.322.534.069 đồng; trong đó phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 04 mã chứng khoán, gồm: HAI, GAB, ART và FLC với số tiền thu lợi bất chính là 684.246.716.936 đồng. (2). Trịnh Thị Minh Huế: Là người thực hành tích cực nhất, giúp sức cho Trịnh Văn Quyết thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể: Trực tiếp tiếp nhận chỉ đạo của Trịnh Văn Quyết để thực hiện hoặc chỉ đạo lại các bị cáo khác thực hiện việc nâng khống vốn góp của Công ty Faros từ 1,5 tỷ đồng lên thành 4.300 tỷ đồng, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sản HOSE, bán cổ phiếu chiểm đoạt 3.621.082.083.518 đồng của 25.853 nhà đầu tư trên sàn chứng khoán; Trực tiếp tiếp nhận chỉ đạo của Trịnh Văn Quyết để thực hiện mua bán cổ phiếu; hoặc chỉ đạo lại các bị cáo khác mở tài khoản, ký các thủ tục chuyển tiền để thực hiện thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính 04 mã cổ phiếu HAI, GAB, ART và FLC số tiền 684.256.716.936 đồng. (3). Trịnh Thị Thúy Nga: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế ký hợp đồng nhận ủy thác đầu tư để hợp thức việc nâng khống vốn góp của Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu 88 chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán; Tham gia tích cực, chỉ đạo toàn bộ việc cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng để thao túng thị trường chứng khoán tại Công BOS, giúp Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính 04 mã cổ phiếu HAI, GAB, ART và FLC số tiển 684.246.716.936 đồng. (4). Hương Trần Kiều Dung: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ động góp vốn, nhận ủy thác đầu tư với số tiền đặc biệt lớn để hợp thức việc nâng khống vốn góp của Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cố phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán; Tham gia tích cực, ký nghị quyết cho phép Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng để thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính 3 mã cổ phiếu GAB, ART và FLC số tiền 445.361.040.887 đồng. (5). Trịnh Văn Đại: Tham gia tích cực, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế ký các thủ tục nâng khống vốn góp; đứng tên cổ đông, nhận ủy thác đầu tư với số tiền đặc biệt lớn để hợp thức việc nâng khống vốn góp tại Công ty FAROS, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán; Giúp Trịnh Thị Minh Huế đứng tên thành lập các công ty để mở tài khoản chứng khoán; giao tài khoản cho Huế quản lý, sử dụng để thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. (6). NguyễnVăn Mạnh: Tham gia tích cực giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế đứng tên là cổ đông góp vốn, nhận ủy thác đầu tư với số tiền đặc biệt lớn để hợp thức nâng vốn góp khống tại Công ty FAROS từ 1,5 tỷ đồng lên thành 4.300 tỷ đồng, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán; Giúp Trịnh Thị Minh Huế đứng tên thành lập các công ty để mở tài khoản chứng khoán; giao tài khoản cho Huế quản lý, sử dụng để thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. (7). Trịnh Tuân: Tham gia tích cực, giúp Trịnh Thị Minh Huế đứng tên là cổ đông góp vốn, nhận ủy thác đầu tư, hợp thức nâng khống vốn góp tại Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết/Trịnh Thị Minh Huế niêm yết cổ phiếu ROS trên sản HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sần chứng khoán. Tham gia tích cực, giúp Trịnh Thị Minh Huế đứng tên thành lập các công ty để mở tài khoản chứng khoán; giao tài khoản cho Huế quản lý, sử dụng để thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. (8). Nguyễn Thị Hồng Dung: Giúp Trịnh Thị Minh Huế nhận ủy thác đầu tư để hợp thức nâng vốn khống tại Công ty FAROS, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán; Giúp Trịnh Thị Minh Huế mở các tài khoản chứng khoán; giao tài khoản chứng khoán cho Huế giao tài khoản cho Huế quản lý, sử dụng để thao túng thị trường chứng khoán, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 89 684.246.716.936 đồng. * Các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung có hành vi vi phạm vào Khoản 4 Điều 174; Khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bố sung năm 2017. Trong đó bị cáo Trịnh Văn Quyết là chủ mưu, tổ chức, các bị cáo Trịnh Thị Minh Huế là người thực hành tích cực; các bị cáo Trịnh Thị Thuý Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung là những người đồng phạm thực hành, giúp sức tích cực cho Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế thực hiện tội phạm. (9). Đỗ Như Tuấn: Tham gia tích cực giúp Trịnh Văn Quyết ký các chứng từ ủy thác đầu tư với số tiền đặc biệt lớn để hợp thức hợp thức nâng khống vốn góp tại Công ty Faros giúp Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn giúp Trịnh Văn Quyết/Trịnh Thị Minh Huế niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (10). Nguyễn Văn Thanh: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn để hợp thức nâng khống vốn góp; ký bản cáo bạch để hợp thức hồ sơ niêm yết cổ phiếu ROS, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (11). Đàm Mai Hương: Ký các Báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo tài chính, Báo cáo tài chính hợp nhất; ký Bản cáo bạch giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (12). Nguyễn Thiện Phú: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn; ký các hợp đồng ủy thác đầu tư, hợp đồng hợp tác kinh doanh, chứng từ chuyển tiền để hợp thức nâng khống vốn v góp tại Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (13). Lê Thành Vinh: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn để hợp thức nâng khống vốn góp; ký các thủ tục để che giấu sau khi tăng vốn góp khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (14). Đỗ Quang Lâm: Giúp Trịnh Văn Quyết ký nghị quyết tăng vốn, ký hợp đồng ủy thác đầu tư; đứng tên cổ đông góp vốn, hợp thức nâng khống vốn góp tại Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sần HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (15). Nguyễn Tiến Dũng: Giúp Trịnh Văn Quyết ký hợp đồng ủy thác đầu tư, đứng tên cổ đông hợp thức nâng khống vốn góp tại Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sần HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (16). Nguyễn Bình Phương: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn, ký hợp đồng hợp tác đầu tư hợp thức việc tăng vốn góp khống, nhận ủy thác đầu tư hợp thức nâng khống vốn góp tại Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư 90 ANH trên sàn chứng khoán. (17). Nguyễn Thanh Bình: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên cổ đông; ký biên bản, Nghị quyết thông qua chủ trương chuyển nhượng 80.000.000 cổ phần của các cổ đông Công ty RTS hợp thức nâng khống vốn góp tại Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (18). Hoàng Thị Thu Hà: Giúp Trịnh Văn Quyết/Trịnh Thị Minh Huế giữ chức vụ là Thành viên HĐQT Công ty Faros ký thủ tục tăng vốn; đứng tên cổ đông, nhận ủy thác đầu tư hợp thức nâng khống vốn góp tại Công ty Faros, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sần HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (19). Trần Thế Anh: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn để hợp thức hồ sơ niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán; sau khi tăng vốn khống tiếp tục ký Hợp đồng/giấy chuyển tiền để che giấu số vốn góp khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sản chứng khoán. (20). Lê Tân Son: Giúp TrịnhVăn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn, nhận ủy thác đầu tư để nâng khống vốn góp; sau khi Công ty Faros nâng vốn khống, Son tiếp tục ký hợp đồng nhận uỷ thác đầu tư để che giấu dòng tiền nâng vốn khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (21). Đặng Thị Hồng: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn, nhận ủy thác đầu tư để hợp thức việc tăng vốn góp khống; sau khi tăng vốn khống tiếp tục ký hợp đồng nhận uỷ thác đầu tư để che giấu dòng tiền nâng vốn khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (22). Lê Văn Sắc: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế đứng tên là cổ đông góp vốn để hợp thức việc tăng vốn góp khống; sau khi tăng vốn khống tiếp tục ký hợp đồng nhận uỷ thác đầu tư để che giấu dòng tiền nâng vốn khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (23). Trương Văn Tài: Giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên là cổ đông góp vốn đề hợp thức việc tăng vốn góp khống, để Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sản HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (24). Nguyễn Minh Điểm: Giúp Trịnh Văn Quyết/Trịnh Thị Thúy Nga nhận ủy thác đầu tư để hợp thức việc nâng khống vốn góp, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (25). Phạm Thanh Hương: Thông qua Nguyễn Thành Bình là lãnh đạo Công ty Faros, Hương đã giúp Trịnh Văn Quyết đứng tên cổ động góp vốn để hợp thức việc tăng vốn góp khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sản HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (26). Phạm Thị Hải Ninh: Giúp Trịnh Văn Quyết/Trịnh Thị Minh Huế đứng 91 tên là cổ đông góp vốn, ký hợp đồng nhận ủy thác đầu tư để hợp thức việc tăng vốn góp khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiểm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (27). Trịnh Thị Út Xuân: Giúp Trịnh Văn Quyết/Trịnh Thị Minh Huế đứng tên là cổ đông góp vốn, ký hợp đồng hợp tác đầu tư hợp thức việc tăng vốn góp khống; ký chứng từ quay vòng dòng tiền nâng khống vốn góp; sau khi tăng vốn khống tiếp tục ký hợp đồng nhận uỷ thác đầu tư để che giấu dòng tiền nâng vốn khống, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sần HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (28). Nguyễn Ngọc Tỉnh và (29) Lê Văn Tuấn: đã ký Báo cáo tài chính kiểm toán số 122 ngày 31/65/2016; Báo cáo tài chính kiểm toán số 123 ngày 31/5/2016 và Báo cáo tài chính kiểm toán số 120 ngày 30/5/2016 của Công ty Faros trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (30). Trần Thị Hạnh: ký Báo cáo tài chính kiểm toán riêng số 345 và Báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất số 346 ngày 18/8/2016; Báo cáo tài chính số 283 ngày 23/7/2016 của Công ty Faros trái pháp luật,giúp Trịnh Văn Quyếtniêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. * Các bị cáo: Đỗ Như Tuấn, Nguyễn Văn Thanh, Đàm Mai Hương, Nguyễn Thiện Phú, Lê Thành Vinh, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Thị Thu Hà, Trần Thế Anh, Lê Tân Sơn, Đặng Thị Hồng, Lê Văn Sắc, Trương Văn Tài, Nguyễn Minh Điểm, Phạm Thanh Hương, Phạm Thị Hải Ninh, Trịnh Thị Út Xuân, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Lê Văn Tuấn, Trần Thị Hạnh có hành vi vi phạm Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế. (31). Chu Tiến Vượng: Đồng ý để cho Trịnh Thị Thúy Nga cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng mua chứng khoán không có tài sản đảm bảo trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. (32). Nguyễn Quỳnh Anh: Đã đề xuất để HĐQT ủy quyền cho Trịnh Thị Thúy Nga cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng mua chứng khoán không có tài sản đảm bảo trái pháp luật; ký các chứng từ kể toán, báo cáo tài chính, hạch toán các khoản tiền do Huế mua chứng khoán thiếu, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. (33). Nguyễn Thị Thanh Phương: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng để thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. (34). Nguyễn Thị Thu Thơm: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng để thao 92 túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART, thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. (35). Bùi Ngọc Tú: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga cấp khống tiền cho các tài khoản do Trịnh Thị Minh Huế quản lý, sử dụng để thao túng 02 mã cổ phiếu FLC, GAB thu lợi bất chính 400.776.468.364 đồng. (36). Trần Thị Lan: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga thanh toán bù trừ khoản tiền Trịnh Thị Minh Huế mua chứng khoán thiếu trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. (37). Quách Thị Xuân Thu: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga thanh toán bù trừ khoản tiền Trịnh Thị Minh Huế mua chứng khoán thiếu trái pháp luật, giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thúy Nga thao túng 01 mã cổ phiếu GAB thu lợi bất chính 3.437.787.029 đồng. (38). Hoàng Thị Huệ, (39). Đỗ Thị Huyền Trang, (40). Nguyễn Quang Trung, (41). Trịnh Thị Thanh Huyền: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế đứng tên công ty mở tài khoản chứng khoán để Trịnh Thị Minh Huế sử dụng thao túng 04 mã cổ phiếu HAI, FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 684.246.716.936 đồng. (42). Nguyễn Thị Nga và (43) Trịnh Văn Nam: Giúp Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế đứng tên công ty mở tài khoản chứng khoán để Trịnh Thị Minh Huế sử dụng thao túng 03 mã cổ phiếu FLC, GAB, ART thu lợi bất chính 445.361.040.887 đồng. * Các bị cáo: Chu Tiến Vượng, Nguyễn Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Thanh Phương, Bùi Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Thơm, Quách Thị Xuân Thu, Trần Thị Lan, Trịnh Văn Nam, Trịnh Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Đỗ Thị Huyền Trang, Nguyễn Quang Trung, có hành vi vi phạm điểm b Khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với vai trò đồng phạm giúp sức cho Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga. (44). Trần Đắc Sinh là người có chức vụ, quyền hạn vì động cơ cá nhân, Trần Đắc Sinh đã đồng ý và chỉ đạo các bị cáo Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng chấp thuận niêm yết 430 triệu cổ phiếu ROS trên sàn HOSE trái pháp luật, để Trịnh Văn Quyết bán cổ phiếu, chiếm đoạt tiền, gây thiệt hại 3.621.082.083.518 đồng cho 25.853 nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (45). Lê Hải Trà, (46). Trầm Tuấn Vũ và (47).Lê Thị Tuyết Hằng là những người có chức vụ, quyền hạn, theo chỉ đạo của Trần Đắc Sinh các bị cáo đã đồng ý chấp thuận niêm yết 430 triệu cổ phiếu ROS trên sàn HOSE trái pháp luật, để Trịnh Văn Quyết bán cổ phiếu, chiếm đoạt tiền, đã gây thiệt hại cho các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. * Hành vi của bị cáo Trần Đắc Sinh, đã phạm vào Khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các bị cáo Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ và Lê Thị Tuyết Hằng là những người đồng phạm, thực hành, giúp sức cho bị cáo Trần Đắc Sinh thực hiện tội phạm. (48). Lê Công Điền là người có chức vụ, quyền hạn biết các Báo cáo kiểm toán về Báo cáo tài chính năm 2014, năm 2015, Báo cáo vốn góp chủ sở hữu 03 tháng đầu năm 2016 của Công ty Faros chưa phù hợp, có ý kiến ngoại trừ và phạm vi ngoại trừ quá lớn, không phù hợp với chuẩn mực kiểm toán, chưa bảo đảm vốn thực góp của chủ sở hữu Công ty là 4.300 tỷ đồng nhưng đã ký Công văn số 4298 ngày 01/7/2016 chấp thuận Công ty Faros là công ty đại chúng có vốn góp chủ sở hữu là 4.300 tỷ đồng, với 114 cổ đông trái pháp luật, đăng thông tin sai lệch này lên cổng thông tin điện tử của UBCKNN để toàn thị trường chứng khoán biết, từ đó Trịnh Văn Quyết đã làm thủ tục niêm yết, bán cổ phiếu, chiếm đoạt tiền, đã gây thiệt hại 3.621.082.083.518 đồng cho 25.853 nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. (49). Dương Văn Thanh và (50) Phạm Trung Minh là người có chức vụ, quyền hạn đã ký Giấy chứng nhận đăng ký chứng khoán số 86 ngày 24/8/2016, đăng ký 430 triệu cổ phiếu ROS, có tổng giá trị 4.300 tỷ đồng, nhập mã cổ phiếu ROS vào khu vực giao dịch thuộc sản HOSE, đăng thông tin sai lệch này lên Website của VSD để Công ty Faros tiếp tục làm thủ tục niêm yết cổ phiếu trên sàn HOSE, từ đó Trịnh Văn Quyết niêm yết, bán cổ phiếu, chiếm đoạt tiền, đã gây thiệt hại 3.621.082.083.518 đồng cho các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán. Các bị cáo Lê Công Điền, Dương Văn Thanh và Phạm Trung Minh đã có hành vi vi phạm vào Khoản 2 Điều 209 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. * Tại phiên toà, một số bị cáo, luật sư có ý kiến tranh luận đề nghị xác định lại về số lượng bị hại, số tiền Trịnh Văn Quyết chiếm đoạt từ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; ý thức chủ quan của nhóm bị cáo giúp sức trong việc ký các giấy tờ có đồng phạm với bị cáo Quyết hay không; xem xét thời điểm chịu trách nhiệm hình sự của các bị cáo phạm tội Thao túng thị trường chứng khoán đối với hành vi thao túng mã cổ phiếu HAI trước thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực. Về các nội dung này, Hội đồng xét xử có đánh giá như sau: (1). Về sốtiền các bị cáo chiểm đoạt và số lượng bị hại trong vụ án: Xét thấy, căn cứ kết quả điều tra và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa đã xác định: Trịnh Văn Quyết đã chỉ đạo, phân công các bị cáo khác thực hiện nhiệm vụ thông qua một chuỗi hành vi gian dối, chủ động thực hiện nhiều lần hành vi nâng vốn góp khống; bắt đầu từ việc mua Công ty Green Belt (sau đổi tên thành Công ty FAROS); sau đó 05 lần nâng khống vốn góp chủ hữu từ 1,5 tỷ đồng lên thành 4.300 tỷ đồng. Trong đó vốn thực góp là 1.197.511.082.182 đồng, gồm: 1,5 tỷ đồng vốn điều lệ khi mua Công ty Green Belt; 29.064.164.000 đồng trả tiền cho nhà thầu lần tăng vốn thứ 2; 214.346.918.182 đồng thanh toán cho nhà thầu, thanh toán tiền hàng lần tăng vốn thứ 3; 400 tỷ đồng vốn góp của Công ty RTS lần tăng vốn thứ 5 và 552,6 tỷ đồng thu hồi từ khoản ủy thác đầu tư để thanh toán cho các nhà thầu, thanh toán tiền hàng. Số tiền 3.102.488.917.818 đồng là vốn góp khống. Sau đó, các bị cáo đã hợp thức hồ sơ, thủ tục đưa thông tin gian đối về vốn góp; niêm yết cổ phiếu ROS trên sàn HOSE làm cho các nhà đầu tư lầm tưởng là có vốn thật; bị cáo đã sử dụng sàn HOSE để thực hiện bán hơn 391 triệu cổ phiếu ROS có giá trị nâng khống được giao dịch qua 30.403 tài khoản chứng khoán của 25.853 nhà đầu tư (là những tài khoản mua cổ phiếu bị nâng khống giả trị ban đầu), thu được hơn 4.818 tỷ đồng. Trịnh Văn Quyết đã chiếm đoạt được 3.621.082.083.518 đồng của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, sử dụng vào mục đích cá nhân. Đến thời điểm này bị cáo Trịnh Văn Quyết chỉ còn sở hữu một lượng cổ phiếu rất nhỏ tại Công ty FAROS (56 cổ 94 phiếu ROS). Tội phạm hoàn thành tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt được tiền của các nhà đầu tư. Do đó, bị hại trong vụ án phải được xác định tại thời điểm các bị cáo đã chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư, như vậy 25.853 nhà đầu tư, đứng tên 30.403 tài khoản chứng khoán mua hơn 391 triệu cổ phiếu mã chứng khoán ROS bán ra ban đầu của các bị cáo là bị hại trong vụ án. Có nhiều nhà đầu tư đã bán cổ phiếu đã mua, có nhà đầu tư hiện không còn sở hữu cổ phiếu ROS, có nhà đầu tư khi bán cổ phiếu đi không bị thua lỗ, nhưng về thực chất là họ đã bị lừa đảo tại thời điểm mua cổ phiếu do Trịnh Văn Quyết bán ra đợt ban đầu, việc họ không bị thua lỗ là do yếu tố thị trường và phần giá trị bị nâng khống đã chuyển dịch cho người mua cổ phiếu sau đó mà cả người bán và người mua đều không biết. Chi đến khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra mới làm rõ được hành vi phạm tội của các bị cáo. Hiện có 133 người có đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi, những người còn lại chưa có đơn yêu cầu nhưng đối với tội danh này không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, các nhà đầu tư chưa có đơn yêu cầu vẫn có quyền yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Thực chất sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã chiểm đoạt được số tiền 3.621.082.083.518 đồng của các nhà đầu tư chứ không chỉ là 2.252.768.321 đồng của 133 bị hại sở hữu 627.090 cổ phiếu ROS ban đầu như ý kiến những người bào chữa cho các bị cáo đã nêu. Điều này còn được chứng minh bằng các các dữ liệu do Uỷ ban chứng khoán nhà nước cung cấp về tổng số nhà đầu tư đã mua cổ phiếu ROS đợt bán ra ban đầu, kết quả điều tra về dòng tiền, lời khai các bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố các bị cáo về tổng số tiền đã chiếm đoạt của các bị hại như Cáo trạng nêu là có căn cứ. (2) Một số bị cáo và luật sư bào chữa cho các bị cáo đã ký giấy tờ tăng vốn, góp vốn khống, nhận uỷ thác đầu tư khống, ký báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, có ý kiến cho rằng, các bị cáo không biết Trịnh Văn Quyếtnâng vốn/góp vốn khống, để niêm yết cổ phiếu ROS, bán chiếm đoạt tiền của nhà đầu tư, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về ý thức chủ quan của các bị cáo: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo có hành vi ký hợp đồng, chứng tờ góp vốn, hợp đồng nhận uỷ thác đầu tư khống đều thừa nhận tại thời điểm các bị cáo ký các hợp đồng, chứng từ, tài liệu nhận ủy thác đầu tư các bị cáo này đều không góp vốn, không có hoạt động đầu tư, các bị cáo chỉ ký các tài liệu trên để hợp thức hoá thủ tục, sau đó đưa cho Huế sử dụng; các chứng từ góp vốn, nhận uỷ thác đầu tư các bị cáo đã ký có giá trị rất lớn, với số tiền hàng chục tỷ đồng, thậm chí hàng trăm tỷ đồng, nhưng không có giao dịch nào là thực chất, mà đó đều là các giao dịch giả tạo, các bị cáo chỉ ký các chứng từ, không thực hiện các giao dịch, bỏ mặc hậu quả có thể xảy ra. Tuy nhiên, về nguyên tắc, các bị cáo biết hoặc buộc phải biết việc đã ký những hợp đồng, chứng từ giả tạo, sau đó đưa cho Quyết, Huế sử dụng là trái pháp luật, là đã tạo điều kiện cho Quyết, Huế thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Đối với các bị cáo đã ký các hồ sơ, thủ tục chủ trương tăng vốn, bản cáo bạch, đều không dựa trên cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của Công ty; không thực hiện theo Luật doanh nghiệp, Điều lệ cộng ty và pháp luật có liên quan mà thực hiện theo chỉ đạo của các bị cáo Quyết, Huế và Doãn Văn Phương. Đây là một khâu trong chuỗi hành vi cố ý, bắt đầu từ việc nâng vốn góp khống đến cuối cùng là bán cổ phiếu ROS ra thị trường chứng khoán, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư. Hành vi của bị cáo trước là tiền 95 đề, là điều kiện để các bị cáo sau thực hiện hành vi phạm tội. Các hành vi khách quan trên thể hiện ý thức chủ quan của các bị cáo tạo điều kiện cho các bị cáo Quyết, Huế thực hiện tội phạm, nên các ý kiến bào chữa cho rằng các bị cáo không đồng phạm với các bị cáo Quyết, Huế là không có cơ sở. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo có vai trò đồng phạm giúp sức cho các bị cáo Quyết, Huế và các bị cáo khác là có căn cứ. (3). Về thời điểm chịu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thực hiện hành vi thao túng thị trường chúng khoán đối với mã cổ phiếu HAI: Xét thấy, căn cứ Kết luận giám định của Uỷ ban Chứng khoán nhà nước, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, đã xác định: Các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế và các bị cáo khác đã thực hiện hành vi thao túng mã cổ phiếu HAI trong giai đoạn bắt đầu từ ngày 26/6/2017 kéo dài đến ngày 09/02/2018, thu lợi bất chính hơn 238 tỷ đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo diễn ra liên tục, kéo dài không có cơ sở phân tách hành vi thao túng mã cổ phiếu này thành hai giai đoạn trước và sau thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về hành vi thao túng đối với mã cổ phiếu HAI trong thời gian như trên là đúng pháp luật. * Đối với các bị cáo khác đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, các bị cáo và những người bào chữa đều không có ý kiến tranh luận về tội danh nên Hội đồng xét xử không phân tích thêm. Như vậy: - Hành vi nêu trên của các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thúy Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung, Đỗ Như Tuấn, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Văn Thanh, Đàm Mai Hương, Nguyễn Bình Phương, Hoàng Thị Thu Hà, Nguyễn Tiến Dũng, Lê Thành Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Lê Tân Sơn, Trần Thế Anh, Đặng Thị Hồng, Lê Văn Sắc, Trương Văn Tài, Nguyễn Minh Điểm, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thanh Hương, Phạm Thị Hải Ninh, Nguyễn Thiện Phú là đặc biệt nghiêm trọng, vi phạm luật hình sự, vi phạm khoản 4, 5 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2015 và khoản 1 Điều 9 Luật Chứng khoán năm 2006; xâm phạm quyền sở hữu tài sản của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, các bị cáo biết rõ Công ty Faros không có đủ vốn điều lệ thực góp như đã ghi trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thực chất các cổ đông Công ty Faros không góp vốn, các cá nhân không nhận tiền vay của Công ty Faros nhưng đã cùng nhau thực hiện các hành vi gian dối để nâng khống vốn điều lệ Công ty Faros từ 1.197.511.082.182 đồng lên 4.300 tỷ đồng vốn góp chủ sở hữu; sau đó phát hành 430 triệu cổ phiếu tương đương 4.300 tỷ đồng, đăng ký niêm yết số cổ phiếu này trên sản HOSE lừa đối các nhà đầu tư trên sàn chứng khoán, để các nhà đầu tư lầm tưởng là cổ phiếu có giá trị thật như đã công bố; để Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế đã bán 391.155.480 cổ phiếu hình thành từ vốn góp nâng khống cho 25.853 nhà đầu tư trên sàn chứng khoán, chiếm đoạt 3.621.082.083.518 đồng của các nhà đầu tư. Do đó các bị cáo trên đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; - Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Ngọc Tỉnh, Lê Văn Tuấn, Trần Thị Hạnh là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật hình sự, vi phạm khoản 11 Điều 59 Luật 96 Kiểm toán độc lập 2011 (các hành vi vi phạm pháp luật về kiểm toán độc lập); vi phạm khoản 3 Điều 3 Thông tư số 202/2015/TT-BTC ngày 18/12/2015 của Bộ Tài chính; vi phạm các Chuẩn mực kiểm toán ban hành theo Thông tư 214/2012/TTBTC ngày 06/12/2012 của Bộ Tài chính. Các bị cáo là những người có trách nhiệm kiểm toán theo đúng quy định của pháp luật trong lĩnh vực kiểm toán, nhưng đã cố ý thực hiện không đúng chức trách, nhiệm vụ của mình, giúp sức để Trịnh Văn Quyết và các đồng phạm hợp thức các chứng từ kế toán gian dối được ghi nhận trong các Báo cáo tài chính của Công ty Faros, tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán chiếm đoạt 3.621.082.083.518 đồng của các bị hại. Các bị cáo Nguyễn Ngọc Tỉnh, Lê Văn Tuấn, Trần Thị Hạnh đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, với vai trò đồng phạm, giúp sức cho Trịnh Văn Quyết và các bị cáo khác trong nhóm lừa đảo chiểm đoạt tài sản. - Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật hình sự, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Chứng khoán năm 2006; Điều 3 Thông tư số 202/2015/TT-BTC ngày 18/12/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về niêm yết chứng khoán trên Sở giao dịch chứng khoán; Điều 5 Quyết định số 10/QĐ-SGDHCM ngày 13/01/2014 của Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh quy định về việc ban hành quy chế niêm yết chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh. Các bị cáo là những người có chức trách, nhiệm vụ trong việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng THAN khoán, nhưng đã không thực hiện đúng, đầy đủ chức trách, trách nhiệm vụ của mình trong việc thẩm định, niêm yết cổ phiếu, tạo điều kiện cho Trịnh Văn Quyết niêm yết 430 triệu cổ phiếu trên sàn HOSE, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư trên sản chứng khoán số tiển 3.621.082.083.518 đồng. Do đó, các bị cáo cáo Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự. - Hành vi nêu trên của các bị cáo Lê Công Điền, Dương Văn Thanh và Phạm Trung Minh là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm luật hình sự, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Chứng khoán năm 2006; các bị cáo đã thực hiện không đúng, không đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc kiểm tra, xác định vốn góp của Công ty Faros, chấp thuận công ty đại chúng, cấp mã cổ phiếu, cho lưu ký chứng khoán, tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết và đồng phạm công bố thông tin sai lệch về vốn góp của Công ty Faros là 4.300 tỷ đồng trên thị trường chứng khoán, làm cho các nhà đầu tư lầm tưởng là Công ty Faros có vốn chủ hữu thật, từ đó, đã mua cổ phiếu ROS đã bị Trịnh Văn Quyết nâng khống giá trị,gây thiệt hại cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán số tiền 3.621.082.083.518 đồng. Do đó, các bị cáo Lê Công Điền, Dương Văn Thanh và Phạm Trung Minh đã phạm vào tội “Cố ý công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chúng khoán”, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 209 Bộ luật Hình sự. - Hành vi nêu trên của các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thúy Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, NguyễnVăn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung, Nguyễn Quỳnh Anh, Chu Tiến Vượng, Nguyễn Thị Thanh Phương, Bùi Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Thơm, Quách Thị Xuân Thu, Trần 97 Thị Lan, Trịnh Văn Nam, Trịnh Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Đỗ Thị Huyền Trang, Nguyễn Quang Trung là rất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, vi phạm luật hình sự, vi phạm khoản 4 Điều 9 Luật Chứng khoán năm 2006, khoản 3 Điều 12 Luật Chứng khoán năm 2019; vi phạm khoản 2 Điều 70 Nghị định sỐ 58/2012/NĐ-CP ngày 12/7/2022; vi phạm khoản 2 Điều 7 Thông tư 203/2015/TТBTC ngày 21/12/2015, quy định về giao dịch và thanh toán giao dịch chứng khoán; Khoản 6 Điều 16 Thông tư 121/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính; khoản 1 Điều 43 Thông tư 210/TT-BTC ngày 31/11/2012 của Bộ Tài chính, hướng dẫn về thành lập và hoạt động của công ty chứng khoán, tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết thu lợi bất chính số tiển đặc biệt lớn. Do đó, các bị cáo trên đã phạm vào tội “Thạo túng thị trường chúng khoán”, thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự. II. Về tính chất, mức độ phạm tội và hình phạt đối với các bị cáo: 1. Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo: 1.1. Đối với các bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: Là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, các bị cáo chiếm đoạt của các nhà đầu tư số tiền đặc biệt lớn, gây mất niềm tin trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến thị trường chứng khoán. - Trong đó, bị cáo Trịnh Văn Quyết là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy, cần phải xử lý nghiêm. Các bị cáo khác là những người đồng phạm, giúp sức, trong đó: Các bị cáo Trịnh Thị Minh Huế là người thực hành tích cực; Các bị cáo Trịnh Thị Thuý Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung là những người giúp sức tích cực. Thông qua thị trường chứng khoán, các bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ảnh hưởng xấu đến niềm tin của các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán, gây bức xúc trong xã hội. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm đối với bị cáo trong nhóm này. Trách nhiệm của mỗi bị cáo được xem xét trên cơ sở vị trí, vai trò, trách nhiệm, số tiền chiếm hưởng của mỗi bị cáo khi thực hiện tội phạm. Các bị cáo khác gồm Đỗ Như Tuấn, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Thiện Phú, Nguyễn Văn Thanh, Đàm Mai Hương, Nguyễn Bình Phương, Hoàng Thị Thu Hà, Nguyễn Tiến Dũng, Lê Thành Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Lê Tân Sơn, Trần Thế Anh, mỗi người tham gia một hoặc một vài khâu, từng giai đoạn, có vai trò thấp hơn, nhưng đều tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết chiếm đoạt số tiền đặc biệt lớn của các bị hại, nên cũng cần phải có đường lối xử lý tương xứng đối với các bị cáo trong nhóm này. Trách nhiệm của mỗi bị cáo được xem xét trên cơ sở vị trí, vai trò, trách nhiệm của các bị cáo này khi thực hiện hành vi phạm tội, các hồ sơ, tài liệu các bị cáo đã ký hợp thức, nâng khống vốn góp để hợp thức hoá dòng tiền. - Các bị cáo Đặng Thị Hồng, Lê Văn Sắc, Trương Văn Tài, Nguyễn Minh Điểm, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thanh Hương, Phạm Thị Hải Ninh, là những người đồng phạm giữ vai trò thấp nhất trong nhóm các bị cáo bị truy tố về tội Lửa đảo chiếm đoạt tài sản, các bị cáo này chủ yếu là người thân, người quen, nhân viên các công ty trong Tập đoàn FLC được Huế nhờ ký các giấy tờ để hợp thức hoá dòng tiền hoặc đứng tên các pháp nhân theo chỉ đạo của Huế. Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo đã giúp sức, tạo điều kiện cho bị cáo Trịnh Văn Quyết chiếm đoạt số tiền đặc 98 biệt lớn của các nhà đầu tư, nên các bị cáo cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Trách nhiệm của mỗi bị cáo tương xứng với số tiền các bị cáo ký góp vốn khống, nhận uỷ thác đầu tư khống, điều kiện, bối cảnh thực hiện các hành vi phạm tội. 1.2. Đối với các bị cáo phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vự”: là tội rất nghiêm trọng, gồm các bị cáo Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng. - Trong đó bị cáo Trần Đắc Sinh (nguyên Chủ tịch HĐQT HOSE) là người giữ vai trò cao nhất, do có quan hệ và chịu sự tác động của Trịnh Văn Quyết, bị cáo Sinh đã gây ảnh hưởng với các bị cáo khác dưới quyền của mình gồm Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng để các bị cáo này đề xuất, tạo điều kiện đưa mã cổ phiếu ROS niêm yết nhanh trên sàn chứng khoán khi chưa đủ điều kiện, tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu Công ty Faros trên sàn chứng khoán, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư. Do đó, bị cáo Sinh phải chịu trách nhiệm cao hơn các bị cáo khác. - Các bị cáo Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ (nguyên Phó Tổng giám đốc HOSE) và Lê Thị Tuyết Hằng (nguyên Giám đốc Phòng Quản lý và Thẩm định niêm yết HOSE) đều là thành viên Hội đồng niêm yết, biết rõ các Báo cáo kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty Faros chưa được kiểm toán chặt chẽ, còn nhiều nội dung lưu ý quá lớn, chưa đủ điều kiện để chấp thuận niêm yết trên sàn chứng khoán, nhưng thực hiện theo sự chỉ đạo, tác động từ bị cáo Sinh chấp thuận cho niêm yết cổ phiếu - mã chứng khoán ROS khi chưa đủ điều kiện, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư. Vi vậy, các bị cáo trên cũng phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, bị cáo Hằng là nhân viên cấp dưới, có trách nhiệm thấp hơn hai bị cáo Trà và Vũ, nên được hưởng mức hình phạt thấp hơn. 1.3. Đối với các bị cáo phạm tội “Cốý công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chứng khoán”: Là tội nghiêm trọng, gồm các bị cáo Lê Công Điền, Dương Văn Thanh, Phạm Trung Minh. Các bị cáo là người chịu trách nhiệm trong việc chấp thuận công ty đại chúng, cấp mã chứng khoán, biết các báo cáo tài chính của Công ty Faros chưa được kiểm toán chặt chẽ, còn nhiều nội dung lưu ý quá lớn, chưa đủ điều kiện đềể chấp thuận là công ty đại chúng, cấp mã chứng khoán, nhưng vẫn bỏ qua, tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết niêm yết cổ phiếu Công ty Faros trên sàn chứng khoán, bán cổ phiếu chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư. N THAN4 1.4. Đối với các bị cáo khác phạm tội “Thao túng thị trường chứng khoán”: Là tội nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tính minh bạch trên thị trường chứng khoán, tại ra sự cung cầu giả tạo trên thị trường, gây lo lắng cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện để Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga hưởng lợi bất chính số tiền đặc biệt lớn. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý tương xứng đối với các bị cáo. 2. Về hình phạt đối với các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo phạm các tội từ nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng. Hình phạt đối với các bị cáo được xem xét trên cơ sở vị trí, vai trò của các bị cáo như đã nêu trên, tính chất, mức độ phạm tội do các bị cáo đã thực hiện, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, hậu quả và thiệt hại xảy ra, nhân thân của các bị cáo, thái 99 độ khai báo, sự ăn năn, hối cải sau khi phạm tội, việc khắc phục hậu quả và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với các bị cáo thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán, đã thực hiện tội phạm trong thời gian dài, với nhiều mã cổ phiếu khác nhau, các khoảng thời gian khác nhau, có nhiều hành vi đều đã thoả mãn yếu tố cấu thành tội phạm độc lập. Vì vậy, các bị cáo trong nhóm phạm tội Thao túng thị trường chứng khoán, phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: + Trong quá trình điều tra và tại phiên toà phần lớn các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Lê Văn Tuấn ban đầu không nhận tội, nhưng tại phiên toà đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện sự ăn năn hối cải. Vì vậy, các bị cáo trong vụ án đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. + Các bị cáo gồm: Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Thiện Phú, Nguyễn Thanh Bình, Trần Thế Anh, Nguyễn Thị Hồng Dung, Lê Thành Vinh, Đặng Thị Hồng, Trương Văn Tài, Phạm Thanh Hương, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thị Hải Ninh, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Bình Phương, Đỗ Quang Lâm, Lê Tân Sơn, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Như Tuấn, Đàm Mai Hương, Trịnh Tuân, Nguyễn Minh Điểm, Lê Văn Tuấn, Trần Thị Hạnh, Hoàng Thị Thu Hà, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng, Trần Đắc Sinh trong quá trình điều tra, truy tố đã chủ động khắc phục, tác động để gia đình nộp tiền khắc phục hậu quả, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; (có phụ lục về số tiền đã nộp kèm theo Bản án). + Các bị cáo có hành vi thao túng thị trường chứng khoán, mặc dù không có trách nhiệm truy nộp nhưng vẫn tự nguyện truy nộp một phần tiền để sung công quỹ nhà nước, gồm: Chu Tiến Vượng, Nguyễn Quỳnh Anh, Đỗ Thị Huyền Trang, Hoàng Thị Huệ, Nguyễn Thị Nga, Trịnh Thị Thanh Huyền, Trịnh Văn Nam, Nguyễn Thị Thu Thơm, Quách Thị Xuân Thu, Trần Thị Lan, Nguyễn Thị Thanh Phương, Bùi Ngọc Tú được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; (có phụ lục về số tiền đã nộp kèm theo Bản án). + Bị cáo Lê Văn Sắc đến nay đã trên 74 tuổi, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Đắc Sinh, Nguyễn Văn Thanh là người cao tuổi được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. + Bị cáo Nguyễn Thiện Phú, Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Lê Thị Tuyết Hằng, Nguyễn Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Thu Thơm, Bùi Ngọc Tú, Quách Thị Xuân Thu, Trần Thị Lan, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong phát hiện tội phạm và trong quá trình giải quyết vụ án được Cơ quan điều tra nêu trong Kết luận điều tra nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. + Các bị cáo: Lê Thị Tuyết Hằng, Phạm Trung Minh, Lê Công Điền, Dương Văn Thanh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Trần Thị Hạnh, Trịnh Thị Út Xuân, Trịnh 100 Văn Quyết, Nguyễn Văn Thanh, Đỗ Như Tuấn, Đỗ Thị Huyền Trang, Hoàng Thị Huệ, Hoàng Thị Thu Hà, Trịnh Văn Đại, Trịnh Văn Nam, Nguyễn Thị Nga, Trần Thế Anh, Hương Trần Kiều Dung, Phạm Thị Hải Ninh có thành tích xuất sắc trong công tác, học tập, lao động được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấy khen... trong đó các bị cáo Dương Văn Thanh được Chủ tịch Nước tặng Huân chương Lao động Hạng Nhì, Hạng Ba; Các bị cáo Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà được Chủ tịch Nước tặng Huân chương Lao động Hạng Ba; Trịnh Văn Đại được Hội đồng nhà nước, Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, hạng nhì, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điểu 51 Bộ luật Hình sự; + Bị cáo Lê Hải Trà có bố đẻ là Liệt sỹ; Bị cáo Lê Văn Sắc được Chủ tịch nước tặng thưởng: Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng 2; Huân chương chiến công hạng 2; được Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh Việt Nam tặng Kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; + Các bị cáo: Đàm Mai Hương, Chu Tiến Vượng, Trần Thị Hạnh, Lê Công Điền, Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thuý Nga, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thị Hải Ninh, Lê Thành Vinh, Nguyễn Văn Thanh, Lệ Thị Tuyết Hằng, Lê Tân Sơn, Trần Đắc Sinh, Hương Trần Kiều Dung, Đỗ Như Tuấn, Đỗ Thị Huyền Trang, Hoàng Thị Huệ, Hoàng Thị Thu Hà, Trịnh Văn Đại, Trịnh Văn Nam, Trịnh Tuân, Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Thị Hồng Dung, Nguyễn Thị Nga, Trầm Tuấn Vũ, Trần Thế Anh, Trịnh Thị Thanh Huyền, Phạm Trung Minh, Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thanh Phương, Trịnh Tuân gia đìnYNTH có công với Cách mạng; các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Nguyễn Quỳnh Anh, Hương Trần Kiều Dung, Lê Công Điền, Nguyễn Minh Điểm, Trần Thế Anh tích cựu thamer gia hoạt động thiện nguyện; nên các bị cáo được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điểu 51 Bộ luật Hình sự. + Các bị cáo Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng được Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh xin giảm nhẹ hình phạt vì có nhiều thành tích đóng góp trong công tác; Các bị cáo Dương Văn Thanh, Phạm Trung Minh được Tổng công ty Lưu ký chứng khoán xin giảm nhẹ hình phạt vì có nhiều đóng góp trong công tác; các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Thuý Nga, Trịnh Thị Minh Huế được chính quyền xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xin giảm nhẹ hình phạt vì có đóng góp, ủng hộ từ thiện cho nhân dân trong xã; Các bị cáo trong nhóm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được các nhân viên Công ty CP Tập đoàn FLC; Công ty Luật SMiC và một số bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Quách Thị Xuân Thu có thành tích trong công tác được tặng giấy khen, nên các bị cáo được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. TOA + Các bị cáo Nguyễn Ngọc Tỉnh, Lê Thị Tuyết Hằng hiện đang bị ung thư, Bị cáo Nguyễn Quỳnh Anh có con nhỏ, bị mắc bệnh tự kỷ; nên các bị cáo được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. + Ngoài bị cáo Trịnh Văn Quyết đã từng bị xử lý vi phạm hành chính vào năm 2017. Các bị cáo khác đều có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra truy tố, xét xử cũng được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. * Ngoài ra, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét x còn xem xét thêm: 101 Bị cáo Trịnh Văn Quyết đã có thời gian cùng Tập đoàn FLC đầu tư và thực hiện nhiều dự án lớn tại các vùng xa, vùng kinh tế khó khăn ở các địa phương như Thanh Hoá, Quảng Ninh, Bình Định... tạo ra hàng chục nghìn công ăn việc làm trong nhiều năm, góp phần tác động tích cực đến kinh tế, xã hội ở nhiều địa phương; Đến nay có chính quyền địa phương tại tỉnh Vĩnh Phúc và có nhiều người có đn, chữ ký đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và các bị cáo khác trong vụ án. Ngoài ra, sau khi tăng vốn lần 5 lên 4.300 tỷ đồng, Công ty Faros có 02 lần tăng vốn lần 6 và lần 7 nâng tổng vốn điều lệ của công ty lên 5.675.981.210.000 đồng. Các lần tăng vốn này không bị xác định là tăng khống, nên đã giảm tỷ lệ vốn khống trong mỗi cổ phiếu từ 72,15% xuống còn 54,66%, giảm một phần thiệt hại cho các nhà đầu tư. - Đối với nhóm các bị cáo Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga, Trịnh Văn Đại, Hương Trần Kiều Dung, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung, Đỗ Như Tuấn, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Tiến Dũng, Lệ Thành Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Lệ Tân Sơn, Trần Thế Anh, là những người đồng phạm, giúp sức cho Trịnh Văn Quyết thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Có nhiều bị cáo như Hương Trần Kiều Dung, Đỗ Như Tuấn, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Tiến Dũng, Lê Thành Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Lê Tân Sơn, Trần Thế Anh có quá trình tham gia thực hiện các dự án góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở các vùng kinh tế còn khó khăn. Trong các bị cáo trên còn có nhiều bị cáo có quan hệ vợ chồng, anh em ruột với các bị cáo trong vụ án này như: Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga, Trịnh Văn Quyết là anh em ruột; Trịnh Thị Thuyý Nga, Nguyễn Văn Mạnh là hai vợ chồng; Nguyễn Thị Hồng Dung, Nguyễn Quang Trung là hai vợ chồng; Trịnh Văn Đại, Trịnh Văn Nam là hai bố con; Trịnh Văn Đại, Trịnh Thị Thanh Huyền là hai anh em ruột; Nguyễn Thị Hồng Dung, Nguyễn Văn Mạnh là hai chị em ruột, tổng cộng có hơn 12 người trong dòng họ, người thân của các bị cáo bị xử lý trong cùng vụ án. Vì vậy, có thể mở lượng khoan hồng của pháp luật, xem xét giảm nhẹ thêm cho các bị cáo trong nhóm này so với mức hình phạt đề nghị của Viện kiểm sát. - Đối với nhóm các bị cáo Đặng Thị Hồng, Lê Văn Sắc, Trương Văn Tài, Nguyễn Minh Điểm, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thanh Hương, Phạm Thị Hải Ninh là những người đồng phạm giúp sức, giữ vai trò thứ yếu, chỉ là những người làm công ăn lương hoặc do có quan hệ họ hàng trong gia đình nên được Trịnh Thị Minh Huế nhờ ký các giấy tờ để đứng tên pháp nhân, ký uỷ nhiệm chi để hợp thức hoá dòng tiền, khi ký các giấy tờ trên các bị cáo này đều không ý thức được đầy đủ hành vi của mình là vi phạm pháp luật; không được hưởng lợi gì, đều đã tự nguyện nộp một phần tiền khắc phục hậu quả vụ án. Vì vậy, cần có chính sách hình sự nhân đạo với nhóm các bị cáo này, xem xét giảm mức hình phạt đối với các bị cáo so với đề nghị của Viện kiểm sát và cho các bị cáo được hưởng án treo để thể hiện sự phân hoá tội phạm và chính sách nhân đạo của pháp luật. - Các bị cáo Dương Văn Thanh, Phạm Trung Minh sau khi phát hiện việc tăng vốn của Công ty Faros có dấu hiệu bất thường đã có Công văn số 8084/VSD ngày 14/7/2016 báo cáo Uỷ ban chứng khoán nhà nước về những vấn đề tồn tại của hố sơ Công ty Faros nhưng Lê Công Điền đã có Công văn số 4878 trả lời những lần tăng vốn trước đây được thực hiện trước khi Công ty Faros là công ty đại chúng nên Uỷ 102 ban chứng khoán nhà nước không xem xét. Vì vậy, các bị cáo Thanh, Minh mới thực hiện theo sự chỉ đạo của cấp trên. Vì vậy, cần có đường lối xử lý phủ hợp. - Các bị cáo Nguyễn Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Thanh Phương, Bùi Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Thơm, Quách Thị Xuân Thu, Trần Thị Lan, Trịnh Văn Nam, Trịnh Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Đỗ Thị Huyền Trạng, Nguyễn Quang Trung là những người đồng phạm giúp sức cho các bị cáo Quyết, Huế, Nga trong việc thao túng thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, các bị cáo này đều là những người làm công ăn lương, nhân viên Công ty BOS hoặc có quan hệ họ hàng bị Huế chỉ đạo hoặc lợi dụng để giúp mình thực hiện hành vi thao túng thị trường. Do đó, cần có đường lỗi xử lý phù hợp, phân hoá với các bị cáo khác trong cùng vụ án. Riêng đối với các bị cáo Trịnh Văn Nam, Trịnh Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Đỗ Thị Huyền Trang, Nguyễn Quang Trung chỉ là những người cho Huế mượn chứng minh thư để mở tài khoản chứng khoán, vai trò thứ yếu, có nơi trú rõ ràng, nên cho có thể cho được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. * Về hình phạt bổ sung: cu - Đối với các bị cáo trong nhóm lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Bị cáo Trịnh Văn Quyết phải bồi thường số tiền lớn cho các bị hại, các bị cáo khác không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo Nguyễn Ngọc Tỉnh, Lê Văn Tuấn, Trần Thị Hạnh phạm tội do vi phạm quy tắc nghề nghiệp kiểm toán nên cần cấm hành nghề trong lĩnh vực trên trong một thời gian nhất định. - Đối với các bị cáo trong nhóm “Thao túng thị trường chứng khoán” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “Cố ý công bố thông tin sai lệch trong hoạt động chứng khoán”: Các bị cáo phạm tội trong lĩnh vực chứng khoán nên cần cấm các bị cáo làm việc trong lĩnh vực chứng khoán một thời gian kể từ sau khi chấp hành xong hình phạt chính. III. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: 1. Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”: 1.1. Về yêu cầu của các bị hại trong vụ án: Kết quả điều tra đã xác định, trong 05 lần tăng vốn, trước khi cổ phiếu ROS chào bán trền sản HOSE, tổng số tiền nhóm Trịnh Văn Quyết đã góp vốn vào Công ty Faros là 1.197.511.082.182 đồng. Vốn điều lệ Công ty Faros đăng ký tại thời điểm niêm yết trên sàn chứng khoán là 4.300.000.000.000 đồng. Số tiền nâng khống giá trị doanh nghiệp là 3.102.488.917.818 đồng (4.300.000.000.000 đồng 1.197.511.082.182 đồng) . Tổng số cổ phiếu được niêm yết là 430.000.000 cổ phiếu. Sau khi niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán, các bị cáo đã bán 391.155.480 cổ phiếu, thu về 4.818.593.165.700 đồng. Chiếm đoạt của các nhà đầu tư số tiền 3.621.082.083.518 đồng. Về nguyên tắc, cần buộc các bị cáo phải bồi thường cho các nhà đầu tư ban đầu (bị hại) số tiền bỏ ra mua cổ phiếu bị nâng khống. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều nhà đầu tư sau khi mua cổ phiếu ROS đã bán đi, có nhà đầu tự mua/bán cổ phiếu nhiều lần, khối lượng cổ phiểu bị trộn lẫn trong các lần mua bán cổ phiếu sau đó. Đến nay, có nhà đầu tư đã bán hết số cổ phiếu đã mua nên không có yêu cầu, nhiều nhà đầu tư không biết mình bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên không có yêu cầu bồi thường. Tại thời điểm các bị cáo bán các cổ phiếu bị nâng khống cho các 103 nhà đầu tư, có nhà đầu tư mua giá cao, có nhà đầu tư mua giá thấp, việc giao dịch khớp lệnh diễn ra liên tục kéo dài trong nhiều năm, đến nay không xác định được chính xác giá mua/bán trong từng lần khớp lệnh. Vì vậy, để đảm bảo công bằng cho các bên, cần buộc bị cáo Trịnh Văn Quyết và đồng phạm phải bồi thường cho các nhà đầu tư số tiền bị chiếm đoạt, trên giá trị nâng khống tính trên mệnh giá của mỗi cổ phiếu đã bán ra trên thị trường, tương ứng với khối lượng cổ phiếu các bị hại còn đang sở hữu. Như đã phân tích ở trên, tương ứng với 4.300.000 cổ phiếu phát hành theo số vốn điều lệ Công ty Faros 4.300.000.000.000 đồng, trong đó giá trị các bị cáo đã nâng khống là 3.102.488.917.818 đồng (4.300.000.000.000 đồng - 1.197.511.082.182 đồng). Tính theo tỷ lệ, trong mỗi cổ phiếu bị cáo Trịnh Văn Quyết và các đồng phạm khi niêm yết và phát hành trên sàn chứng khoán bị nâng khống giá trị 72,15% (giá trị nâng khống 3.102.488.917.818 đồng/vốn điều lệ 4.300.000.000.000 đồng). Mệnh giá cổ phiếu chào bán trên thị trường là 10.000 đồng/1 cổ phiếu. Như vậy, mỗi cổ phiếu được chào bán trên thị trường cho các bị hại, các bị cáo đã nâng khống 7.215 đồng (72,15% của 10.000 đồng). Vì vậy, các bị cáo sẽ phải bồi thường cho các bị hại số tiền là 7.215 đồng trên mỗi cổ phiếu bán ra thị trường, nhân với khối lượng cổ phiếu bị hại đang sở hữu. Trong số 133 bị hại đang sở hữu cổ phiếu đợt phát hành ban đầu, quá trình tranh tụng các luật sư bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn Quyết nộp các tài liệu thể hiện có 85 bị hại có đơn xác nhận đã nhận tiền bồi thường từ gia đình bị cáo. Vì vậy, bị cáo Quyết và đồng phạm phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại khác số tiền theo phương án nêu trên. Đối với các bị hại đã bán hết cổ phiếu ROS (đã chuyển phần giá trị bị nâng khống cho người mua tiếp theo) và các bị hại khác hiện chưa có yêu cầu bồi thường, có quyền đề nghị xem xét bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu. 1.2. Đối với yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tính đến ngày bị hủy niêm yết trên HOSE vào ngày 5/9/2022, có 63.075 nhà đầu tư (không tính các bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn đang đứng tên cổ phiếu ROS) đang sở hữu tổng số 567.598.121 cổ phiếu ROS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, có 27.881 nhà đầu tư có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hội đồng xét xử xét thấy: - Hành vi nâng khống vốn chủ sở hữu thực góp của bị cáo Trịnh Văn Quyết và các đồng phạm và các hành vi lừa đảo khác đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cổ phiếu ROS, kéo theo cổ phiếu ROS đã bị sàn HOSE hủy niêm yết bắt buộc từ ngày 05/9/2022 (do vi phạm điều cấm của Luật doanh nghiệp về khai khống vốn điều lệ, về công bố thông tin...) làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của cổ phiếu ROS, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. - Tuy nhiên, việc mua bán cổ phiếu được xác lập trên cơ sở khớp lệnh của hàng triệu tài khoản chứng khoán trên thị trường, khi nhà đầu tư phát sinh nhiều giao dịch mua - bán cùng một mã cổ phiếu thì việc xác định nhà đầu tư đã bán cổ phiểu mua tại thời điểm nào và mua của ai không thể xác định; ngoài giá trị thực của cô phiếu thì giá cổ phiếu giao dịch trên sàn chứng khoán còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thị trường, tâm lý nhà đầu tư... Mặt khác, hiện nay Công ty Faros vẫn đang hoạt động, cổ phiếu ROS vẫn còn giá trị lưu hành trên thị trường tự do (chỉ không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chúng khoán). Vì vậy, không thể buộc các bị cáo phải 104 bồi thường toàn bộ số tiền các nhà đầu tư đã bỏ ra mua cổ phiếu, mà chỉi có thể buộc các bị cáo bồi thường phần giá trị bị nâng khống trên mỗi cổ phiếu. - Kết quả điều tra đã xác định: Sau khi 430 triệu cổ phiếu ROS được niêm yết và giao dịch tại HOSE từ ngày 01/9/2016, Công ty Faros tiếp tục tăng vốn 02 lần (lần 6 từ 4.300 tỷ lên 4.729.999.990.000 đồng và lần 7 từ 4.729.999.990.000 đồng lên 5.675.981.210.000 đồng). Cả hai lần tăng vốn này đều dưới hình thức phát hành thêm cổ phiếu, tăng vốn điều lệ để trả cổ tức cho các cổ đông hiện hữu và là hệ quả tiếp theo của việc nâng khống vốn điều lệ 5 lần trước đó (4300 tỷ) và niêm yết cổ phiếu ROS trên HOSE. Vì vậy, cần buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm về yêu cầu bồi thường thiệt hại của các nhà đầu tư hiện còn đang nắm giữ tổng số 567.598.121 cổ phiếu. Tuy nhiên, số tiền tăng vốn lần 6 và lần 7, không bị xác định là tăng vốn khống. Nên xác định sau 7 lần tăng vốn thì số vốn thật của Công ty Faros là 2.573.492.292.182 đồng, số vốn khống là 3.102.488.917.818 đồng. Vốn điều lệ sau khi tặng vốn lần 7 là 5.675.981.210.000 đồng. Tỷ lệ vốn khống trên vốn điều lệ giảm xuống còn 54,66% (3.102.488.917.818 đồng/5.675.981.210.000 đồng). Như vậy, đối với mỗi cổ phiếu mệnh giá 10.000 đồng thì có 5.466 đồng (54,66%) là vốn khống. Vì vậy, cần buộc các bị cáo phải bồi thường cho nhà đầu tư giá trị bị nâng khống trên mỗi cổ phiếu, tương ứng với khối lượng cổ phiếu đang sở hữu. Phần giá trị khác ảnh hưởng đến giá cổ phiểu nhà đầu tư đã mua, nằm ngoài phần giá trị bị n ng khống là do thị trường và các yếu tố chủ quan, khách quan khác nên không buộc các bị cáo phải bồi thường. * Đối với các nhà đầu tư khác đang sở hữu cổ phiếu ROS là bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hiện chưa có yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường trong vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu. * Các nhà đầu tư đã bán cổ phiếu ROS cho các nhà đầu tư khác có quyền tự thoả thuận với bên mua về hoàn trả giá trị bị nâng khống, nếu có tranh chấp các bên có quyền giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật. 1.3. Về việc xác định trách nhiệm bồi thường dân sự của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, bị cáo Trịnh Văn Quyết là người chủ mưu, chỉ đạo nâng khống vốn điều lệ thực góp, niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán rồi bán kiếm lời, chiếm đoạt tiền của các nhà đầu tư. Bị cáo Quyết là người chịu trách nhiệm chính về hành vi phạm tội, đồng thời là người hưởng lợi phần lớn số tiền chiếm đoạt được từ các nhà đầu tư. Bị cáo Trịnh Thị Minh Huế là người đồng phạm tích cực, thực hiện theo sự chỉ đạo của bị cáo Quyết. Mặc dù, tại phiên toà bị cáo Quyết đề nghị nhận toàn bộ trách nhiệm bồi thường, nhưng để đảm bảo quyền lợi của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cần buộc bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho các nhà đầu tư bị thiệt hại từ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị cáo gây ra. Đối với các bị cáo khác là những người giữ vai trò thấp hơn, phần lớn không hưởng lợi gì, thực hiện theo chỉ đạo của Quyết, Huế và đã nộp lại số tiền, cổ phiếu được chia hoặc số cổ phiếu đó đã bị phong toả để đảm bảo thi hành án, nên Hội đồng xét xử không buộc trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, một số bị cáo có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện còn đang nắm giữ cổ phiếu ROS, xét thấy các bị cáo có lỗi trong việc để xảy ra hậu quả vụ án. Vì vậy, cần dùng số cổ phiếu trên của các bị cáo để bảo đảm việc bồi thường cho các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. 105 THA Theo phương án bồi thường đã phân tích ở trên, tổng số tiền các bị cáo phải bồi thường cho các bị hại là: 2.559.593.400 đồng và bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu bồi thường là: 1.783.280.002.038 đồng; Tổng cộng số tiền các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế phải liên đới bồi thường cho các bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là: 1.785.839.595.438 đồng; (có phụ lục kèm theo). Quá trình điều tra, truy tố, xét xử có một số bị cáo và gia đình các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự nguyện nộp các khoản tiền để bồi thường cho các nhà đầu tư (tổng cộng: 264.358.700.973 đồng). Vì vậy, cần trừ số tiền trên vào khoản tiền các bị cáo còn phải bồi thường. 2. Đối với tội “Thao túng thị trường chứng khoán": Trong vụ án này, các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga đã chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Trong giai đoạn tiến hành tố tụng, một số nhà đầu tư có đơn đề nghị buộc các bị cáo có hành vi thao túng thị trường chứng khoán phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã trưng cầu giám định tại Bộ Tài chính để xác định số tiền gây thiệt hại cho các nhà đầu tư mua cổ phiếu đối với 05 mã chứng khoán, gồm: AMD, HAI, GAB, ART, FLC trong các giai đoạn thao túng thị trường chứng khoán. Nếu gây thiệt hại cho các nhà đầu tư thì phương pháp tính thiệt hại cho các nhà đầu tư như thế nào? Tại Kết luận giám định ngày 23/10/2023 của Giám định viên Bộ Tài chính đã nêu: (1) "... chưa có căn cứ xác định thiệt hại của các nhà đầu tư do hành vi “Thao túng thị trường chứng khoán” của Trịnh Văn Quyết và đồng phạm gây ra đối với 05 mã chứng khoán (AMD, HAI, GAB, ART, FLC), bởi các lý do sau: - Giao dịch trên thị trường chúng khoán theo một nguyên tắc được xác định, các nhà đầu tư tham gia giao dịch phải tuân thủ các nguyên tắc giao địch, nguyên tắc khớp lệnh (phương thức khớp lệnh, đơn vị giao dịch và biên độ giao động giá...). Giá cổ phiếu được xác lập trên cơ sở giao dịch khớp lệnh của hàng triệu tài khoản của các nhà đầu tư trên thị trường; trong đó, bao gồm tài khoản của các nhà đầu tư giao dịch thông thường và các tài khoản do nhà đầu tư có hành vi thao túng sử dụng. Theo phương thức khớp lệnh và bù trừ đa phương, nhà đầu tư không biết đối tác khớp lệnh (mua/bán của nhà đầu tư nào). - Giao dịch của các nhà đầu tư diễn ra thường xuyên, có thể mua bản liên tục một mã cổ phiếu trong thời gian dài. Khị nhà đầu tư phát sinh nhiều giao dịch mua bán cùng 01 mã cổ phiếu thì việc nhà đầu tư đã bán cổ phiếu mua thời điểm nào và mua của ai là không thể xác định; do vậy, không có cơ sở để đánh giá chính xác nhà đầu tư bị lỗ do bán chính cố phiếu đã mua của nhóm thao túng; theo đó, không đủ căn cứ chúng minh thiệt hại từ hành vi vi phạm thể hiện mối quan hệ nhân quả từ hành vi thao túng thị trường chúng khoản và giao dịch của nhà đầu tư. - Trong giai đoạn xảy ra hành vi thao túng thị trường chứng khoán, có nhà đầu tư giao dịch có lãi, nhung cũng có nhà đầu tư bị thua lỗ. Tuy nhiên, Giá trị thua lỗ của nhà đầu tư có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: ảnh hưởng của các yếu tổ thị trường, ảnh hưởng của việc thao túng giá cổ phiếu, yếu tổ chủ quan của các nhà đầu tư...Việc xác định mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nguyên nhân đối với giá trị thua lỗ của nhà đầu tư là không thể thực hiện được”. 106 Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu bồi thường của các nhà đầu tư liên quan đến hành vi thao túng đối với 05 mã cổ phiếu AMD, HAI, GAB, ART, FLC trong vụ án này. Giành quyền khởi kiện cho các nhà đầu tư, yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền thiệt hại trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu và có căn cứ chứng minh. Tuy nhiên, cần buộc các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga phải liên đới truy nộp số tiền hưởng lợi bất chính từ hành vi thao túng thị trường chứng khoán là 684.246.716.936 đồng để sung công quỹ nhà nước. Nếu chia theo vị trí, vai trò, số tiền hưởng lợi bị cáo Quyết phải truy nộp nhiều nhất, tiếp đó là đến bị cáo Huế, rồi đến bị cáo Nga. Một số bị cáo khác đã tự nguyện nộp số tiền 570.000.000 đồng tiền để khắc phục hậu quả cho hành vi thao túng thị trường chứng khoán, nên Hội đồng xét xử trừ số tiền trên vào khoản tiền các bị cáo Quyết, Huế, Nga còn phải truy nộp. Các bị cáo Quyết, Huế, Nga còn phải truy nộp 683.676.716.936 đồng. IV. Về các nội dung khác: 1. Về biện pháp tư pháp: 1.1 Đối với số tiền các bị cáo và pháp nhân liên quan hưởng lợi bất chính: Bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga là những người đồng phạm tích cực thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán, các bị cáo đã hưởng lợi bất chính số tiền thao túng. Vì vậy, cần buộc các bị cáo này phải truy nộp số tiền hưởng lợi bất chính từ hành vi thao túng thị trường chứng khoán đối với 04 mã cổ phiếu HAI, GAB, ART, FLC là 684.256.716.936 đồng sung công quỹ nhà nước. Đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán đối với mã cổ phiếu AMD được thực hiện trước thời điểm Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 các bị cáo không bị truy tố về hành vi thao túng đối với mã cổ phiếu này, Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Uỷ ban Chứng khoán nhà nước xử lý theo quy định Điều 29 Nghị định 108/2013/NĐ-CP ngày 23/9/2013, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế phải nộp lại số tiền hưởng lợi bất hợp pháp do thực hiện này vi vi phạm là 39.075.817.133 đồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với các bị cáo khác có vai trò thấp hơn, không được hưởng lợi gì và với một số cá nhân/pháp nhân khác có vai trò không đáng kể, không bị xử lý hình sự nên Hội đồng xét xử không buộc liên đới truy nộp. Tuy nhiên, các khoản tiền trong tài khoản ngân hàng, cổ phiếu trong tài khoản chứng khoán của những người này do Trịnh Thị Minh Huế sử dụng vào hành vi phạm tội, cần tiếp tục phong toả, ngăn chặn giao dịch để bảo đảm thi hành nghĩa vụ truy nộp của các bị cáo. Một số bị cáo khác tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả cho hành vi thao túng thị trường chứng khoán, nên Hội đồng xét xử ghi nhận và sung công quỹ nhà nước. Công ty Chứng khoán BOS đã để cho các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga, Hương Trần Kiều Dung, Chu Tiến Vượng, Nguyễn Quỳnh Anh và các bị cáo khác, sử dụng các tài khoản không đủ tiền, không có tài sản bảo đảm, thực hiện hành vi thao túng thị trường chứng khoán, thu phí từ các giao dịch bất hợp pháp đó là 42.471.521.663 đồng (đã trừ đi số tiền thu lợi từ việc thao túng cổ phiếu mã AMD là 202.577.903 đồng), đây là khoản tiền Công ty Chứng 107 khoán BOS hưởng lợi bất chính. Vì vậy, cần buộc Công ty Chứng khoán BOS phải truy nộp số tiền hưởng lợi bất chính trên để sung công quỹ nhà nước. 1.2. Về số tiền đã tạm giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền do các bị cáo và những người liên quan đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả thiệt hại: Tổng số tiền hơn 264 tỷ đồng (có phụ lục kèm theo), cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án về phần bồi thường thiệt hại cho các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các nghĩa vụ khác của các bị cáo. 1.3. Đối với việc sử dụng tiền do phạm tội mà có: Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra để xác định số tiền các bị cáo chiếm đoạt sau khi phạm tội, nhưng kết quả điều tra xác định số tiền chiếm đoạt đã bị trộn lẫn với các khoản tiền khác, các cá nhân liên quan quá trình điều tra chưa có đủ lời khại nên chưa đủ căn cứ chính xác để quy kết truy nộp. Mặt khác, tất cả số tiền này đều liên quan hoặc nằm trong nguồn gốc tài sản của Trịnh Văn Quyết trong Tập đoàn FLC và các cá nhân liên quan, hiện đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an kê biên, phong tỏa, ngăn chặn giao dịch. Bị cáo Trịnh Văn Quyết đã nhận toàn bộ trách nhiệm dân sự của vụ án về cả tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Thao túng thị trường chứng khoán. Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát có ý kiến không đề nghị buộc truy thu số tiển trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp tục điều tra, làm rõ việc sử dụng tiền có nguồn gốc vi phạm pháp luật của các bị cáo để bảo đảm việc bồi thường cho các bị hại và những người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan, cũng như thi hành các nghĩa vụ khác của các bị cáo. 2. Đối với tài sản bị kê biên, phong toả, yêu cần ngăn chặn giao dịch: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã kê biên các bất động sản của các bị cáo, phong toả các tài khoản ngân hàng, đề nghị Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các Tổ chức tín dụng ngăn chặn giao dịch khoá chiều ghi nợ của các tài khoản ngân hàng, đề nghị Uỷ ban Chứng khoán nhà nước phong toả các tài khoản chứng khoán có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh/thành phố ngăn chặn giao dịch liên quan đến các tài sản khác của các bị cáo. Cần tiếp tục duy trì các lệnh kê biên, lệnh phong toả, yêu cầu ngăn chặn giao dịch nêu trên để bảo đảm thi hành án đối với các nghĩa vụ của các bị cáo (có phụ lục kèm theo). Bà Lê Thị Ngọc Diệp (vợ bị cáo Quyết) tại phiên toà có ý kiến tự nguyện dùng các tài sản của mình đã bị kê biên, phong toả để bồi thường thay cho bị cáo Quyết, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với các bất động sản đang thế chấp cho các Ngân hàng Vietinbank, BIDV, OCB, Pulic Bank theo các hợp đồng thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm trong các giao dịch dân sự, để bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình, cần ưu tiên thanh toán cho các Ngân hàng trước, số tiền còn lại sẽ được dùng để thi hành các nghĩa vụ của các bị cáo. Đối với 800.000 cổ phiếu GAB thuộc sở hữu của bị cáo Trịnh Văn Quyết đang thế chấp cho Ngân hàng BIDV theo Hợp đồng thế chấp cổ phiếu đã niêm yết số 01.2020.3239064/HĐBĐ ngày 13/4/2020 và có đăng ký giao dịch bảo đảm trong giao dịch dân sự, để bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình, cần ưu tiên thanh toán cho BIDV trước, số tiền còn lại sẽ được dùng để thi hành các nghĩa vụ của các bị cáo. Đối với yêu cầu của Công ty Chứng khoán Mirae Asset, đề nghị cho gỡ bỏ phong toả 32.266.730 cổ phiếu FLC của Trịnh Văn Quyết đang ký quỹ tại Công ty theo Hợp đồng giao dịch ký quỹ chứng khoán số 48/HĐGDKQ/HN/2016 ngày 19/10/2016, xét thấy đây là tài sản của bị cáo Trịnh Văn Quyết, bị cáo có nghĩa vụ 108 phải thi hành án, việc phong toả số cổ phiếu trên là cần thiết, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Công ty. Tuy nhiên, do đây là tài sản bảo đảm của bị cáo khi thực hiện giao dịch dân sự, nên để bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình, khi phát mại sốô cổ phiếu đó cần ưu tiên thạnh toán cho Công ty Chứng khoán Mirae Asset trước, số tiền còn lại sẽ được dùng để thi hành các nghĩa vụ của bị cáo Quyết. Đối với các tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán khác nằm ngoài các phụ lục kèm theo Bản án mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Chứng khoán nhà nước đã có lệnh/quyết định/yêu cầu phong tỏa, ngăn chặn giao dịch đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Chứng khoán nhà nước tiếp tục xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. 3. Về vật chứng, tài sản, đồ vật đã thu giữ: - Đối với các tài sản của các bị cáo Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga, Hương Trần Kiều Dung, Nguyễn Quỳnh Anh, Nguyễn Thiện Phú: cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành các nghĩa vụ của các bị cáo (Có phụ lục kèm theo). - Đối với các tài sản của Công ty BOS: Công ty có nghĩa vụ truy nộp tiền sung công quỹ nhà nước, vì vậy, cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án. - Đối với các tài sản của các pháp nhân khác gồm Công ty Faros, Công ty CP Tập đoàn FLC, Công ty CP Nông dược HAI và một số cá nhân không có nghĩa vụ phải thi hành án nên Hội đồng xét xử trả lại cho các công ty và cá nhân trên trên. - Đối với các con dấu của các pháp nhân có liên quan: Đây là tài sản của các pháp nhân, nên Hội đồng xét xử trả lại cho các pháp nhân các con dấu đó. Đồng thời, kiến nghị Cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của các công ty do các bị cáo thành lập ra nhằm mục đích thực hiện tội phạm. - Đối với các con dấu loại dấu tên, dấu khắc chữ ký tên cá nhân các bị cáo, người có liên quan đến hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Thao túng thị trường chứng khoán”: Đây là các công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy. 4. Về án phí và quyền kháng cáo: - Theo quy định của pháp luật, các bị cáo trên 60 tuổi được miễn án phí.. - Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Do vụ án có rất nhiều người tham gia tố tụng nên để đảm bảo quyền lợi của các bị hại, những người co quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được thie quy định của pháp luật. NHẬD DÂN THÀNH Pảng trên phương tiện thông tin đại chúng
Vì các lẽ trên, I. Về tội danh đối với cácbì
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét