NỘI DUNG VỤ ÁN:

 

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện vụ án Dân sự ngày 28/9/2023; Biên bản về việc tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các lời khai tại Tòa án. 

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A và ông Phan Văn T cùng thống nhất trình bày:
Bà A là chị ruột của bà Nguyễn Thị Bích N. Cha mẹ của bà A là ông Nguyễn Văn C (chết năm 2013), bà Trương Thị D (chết năm 1996). Cha, Mẹ có 08 người con chung, thứ tự từ lớn đến nhỏ, như sau: Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị Kim A, Nguyễn Văn D2, Nguyễn Thị Bích T2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Thị Bích N, Nguyễn Minh T3 (P). Ngoài ra, không có con nuôi hay con riêng nào khác.

Sinh thời Cha, Mẹ có tạo lập được tài sản là phần diện tích đất tọa lạc tại số A, đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là số EN, phường R, tỉnh An Giang) đã được UBND thị xã R (nay là phường R) cấp giấy nhận QSD đất số 005QSDĐ/VH ngày 26/01/2000; thửa số 57, tờ bản đồ số 21, diện tích 396,12m². Trên đất có 01 căn nhà cấp 4. Nguồn gốc đất là do ông, bà để lại cho cha, mẹ là Nguyễn Văn C và Trương Thị Diệu.

Vào ngày 30/8/2003 và ngày 13/6/2008 vợ chồng bà A, ông T có mua của cha là ông Nguyễn Văn C 01 phần đất bên hông nhà và 01 phần đất phía sau căn nhà cấp 4, việc mua bán có làm giấy tờ mua bán viết tay có 02 người con là Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Văn T4 chứng kiến xác nhận, nhưng chưa làm các thủ tục sang tên, tách thửa. Sau đó, vợ chồng bà A, ông T xây dựng nhà để sinh sống. Thời điểm này do cha là ông Nguyễn Văn C thường xuyên đau yếu, bệnh tật nên ông C có thế chấp toàn bộ diện tích đất nêu trên để vay vốn ở Ngân hàng (bao gồm cả phần đất mà vợ chồng bà A, ông T đã mua).

Đến năm 2013, ông Nguyễn Văn C chết, không để lại di chúc. Vào ngày 17/12/2013 các chị, em trong gia đình tiến hành lập Văn bản phân chia di sản thừa kế đối với tài sản nêu trên. Nhằm để thuận tiện trong việc giao dịch với Ngân hàng nên vợ chồng bà A, ông T thống nhất cho Nguyễn Thị Bích N đứng tên quyền sử dụng toàn bộ diện tích nêu trên và đã được UBND thành phố R cấp Giấy chứng nhận QSD đất số BS 498918, ngày 07/01/2014.

Vào năm 2014 giữa bà A và bà N có thỏa thuận miệng đổi lại vị trí đất mà vợ chồng bà đã mua, sang vị trí đất mà vợ chồng bà hiện đang sinh sống. Trên phần đất này, vào năm 2014 khi vợ chồng bà có nhu cầu cất nhà ở nên có nhờ bà N đứng tên trên giấy phép xây dựng đã được Cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Sau đó vợ chồng bà đã xây dựng 01 căn nhà cấp 4 có hiện trạng như hiện nay và sinh sống cho đến nay.

Sau đó, vợ chồng bà có yêu cầu bà N tiến hành các thủ tục sang tên, tách thửa nhưng không thực hiện được do Giấy tờ đang thế chấp Ngân hàng và bà N nói nếu tách thửa thì không đủ diện tích để vay, để vài năm rồi tách, vì tin tưởng nên không tiến hành thủ tục tách thửa cho đến nay. Vào năm 2023 vợ chồng bà có đề nghị với bà N làm Giấy xác nhận với nội dung trong tổng diện tích đất diện tích 396,12m² mà bà N đứng tên có 150,18m² diện tích đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà nhưng bà N không đồng ý. Sự việc vợ chồng bà có yêu cầu UBND phường V giải quyết nhưng không thành. Do đó, bà A, ông T khởi kiện đến Tòa án.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà A, ông T yêu cầu:

+ Bà A, ông T yêu cầu công nhận phần đất có chiều ngang phía trước 4,8m; chiều ngang phía sau 6,7m; chiều dài một bên giáp với bà N là 30,06m; chiều dài bên còn lại là 28.58m; diện tích 153,1m² (theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 11/12/2024 và Tờ trích đo địa chính số TĐ 70 – 2025 ngày 14/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố R); phần đất tọa lạc tại: đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà A, ông T (Phần diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BS 498918; thửa số 57; tờ bản đồ số 21; diện tích 396,12m² được UBND thành phố R cấp ngày 07/01/2014 cho bà Nguyễn Thị Bích N đứng tên chủ quyền).

+ Yêu cầu vợ chồng bà Nguyễn Thị Bích N, ông Lư Trung T1 có trách nhiệm thực hiện các thủ tục sang tên, tách thửa phần diện tích đất nêu trên cho vợ chồng bà A, ông T đứng tên quyền sử dụng.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích N, ông Lư Trung T1 cùng thống nhất trình bày: Bà N thống nhất với nội dung bà A trình bày về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc phần diện tích đất 396,12m², đất tọa lạc tại địa chỉ: đường N, phường R, tỉnh An Giang.

Bà N xác nhận hiện đang đứng tên chủ quyền phần diện tích đất tọa lạc tại: đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là phường R, tỉnh An Giang), thửa số 57, tờ bản đồ số 21, diện tích 396.12m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BS 498918 được UBND thành phố R cấp ngày 07/01/2014.

Bà N trình bày rõ nội dung sau: Sau khi cha, mẹ là ông Nguyễn Văn C và bà Trương Thị D được thừa hưởng phần diện tích nêu trên từ ông, bà. Ngày 15/6/2009, ông Nguyễn Văn C có họp gia tộc chia tài sản nhà, đất nêu trên là 01 Căn nhà 03 gian cùng đất ở cho các chị em chúng bà N. Theo đó, 01 gian bên trái chia cho ông Nguyễn Văn C1; 01 gian giữa là cho bà N dùng để thờ cúng và nuôi dưỡng cha là ông C; còn gian bên phải chia cho ông Nguyễn Minh T3 (Phụng). Ngoài ra, trước đó, ông C có cho bà Nguyễn Thị Kim A 01 miếng đất và nhà sau. Biên bản họp gia tộc được tất cả các anh chị em trong gia đình thống nhất ký tên và đã được thực hiện đúng theo nội dung biên bản.

Vào ngày 17/01/2010 người em tên Nguyễn Minh T3 bán lại cho bà N phần diện tích nhà, đất được chia theo biên bản họp gia tộc. Bà N và ông T3 đã tiến hành giao tiền và giao nhà, đất xong. Ngày 14/5/2012 người anh tên Nguyễn Văn C1 bán lại cho bà N phần diện tích nhà, đất được chia theo biên bản họp gia tộc, với giá 300 triệu đồng, bà N trả tiền mặt cho ông C1 100 triệu, còn 200 triệu bà N trả thay cho ông C1 tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh C3. Bà N và ông C1 cũng đã tiến hành giao tiền và giao nhà, đất xong. Bà N trình bày rõ, hoàn cảnh dẫn đến ông C1 bán lại nhà, đất cho bà N là do trước đây cha là ông Nguyễn Văn C có ủy quyền cho ông C1 đứng tên thế chấp toàn bộ diện tích đất nêu trên để vay tiền tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh C3 (bao gồm các phần đất và nhà mà ông C đã cho các con trong Biên bản họp gia tộc). Tuy nhiên, ông C và ông C1 không trả được nợ nên ông C1 mới kêu bà N mua lại nhà, đất của ông C1, đồng thời để thanh toán tiền cho Ngân hàng và lấy giấy tờ nhà đất về nếu không thì sẽ bị Ngân hàng phát mãi tài sản. Từ đó, tất cả các anh, chị, em trong gia đình mới thống nhất lập Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/12/2013, với nội dung là thống nhất, đồng ý tặng cho toàn bộ di sản của ông Nguyễn Văn C là diện tích 396,12m² (bao gồm cả các phần đất và nhà mà ông C đã cho các con trong Biên bản họp gia tộc) cho Nguyễn Thị Bích N thừa kế và được toàn quyền định đoạt toàn bộ di sản nêu trên. Sau đó thì bà N tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận và được UBND thành phố R cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 498918, ngày 07/01/2014.

Đối với phần diện tích đất mà ông C cho vợ chồng bà A ở phía sau nhà, do bà N là người bỏ tiền ra trả cho Ngân hàng để lấy Giấy tờ đất về nên vợ chồng bà A đã tặng cho bà N phần đất này. Bà A cho rằng các anh, chị, em trong gia đình thống nhất giao toàn bộ diện tích đất nêu trên cho bà N đứng tên nhằm để thuận tiện trong việc vay vốn tại Ngân hàng là không đúng sự thật. Vì nhà, đất này trước đó ông C và ông C1 thế chấp vay tiền Ngân hàng nhưng không có khả năng để trả nợ nên bà N là người bỏ tiền ra để mua lại phần đất của các anh em trong gia đình và trả nợ cho Ngân hàng nên các anh em mới thống nhất đồng lập biên bản phân chia thừa kế giao toàn bộ tài sản cho bà N và bà N được cấp Giấy chứng nhận mà các anh, chị, em trong gia đình hoàn toàn không ai có ý kiến, khiếu nại gì.

- Tại phiên tòa bà N, ông T1 thể hiện ý kiến, quan điểm:

Đối với các yêu cầu khởi kiện của bà A, ông T thì vợ chồng bà N, ông T1 đưa ra phương án thỏa thuận như sau: Vợ chồng bà N, ông T1 đồng ý giữ nguyên hiện trạng căn nhà và đất tọa lạc tại số F, đường N, phường R, tỉnh An Giang mà bà A, ông T đang quản lý, sử dụng, được thể hiện cụ thể theo Tờ trích đo địa chính số TĐ 70 – 2025 (57-21), ngày 14/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố R (nay là Chi nhánh Khu vực liên phường R). Tuy nhiên, do kết cấu nhà của bà N, ông T1 và nhà của bà A, ông T đang sử dụng có kết cấu chung cột, chung đà dọc nhà, chung mái nhà bằng bê tông. Vì vậy, nếu sau này một trong các bên có tiến hành sửa chữa, xây dựng nhà thì phải báo cho bên kia biết trước 01 (một) tháng để tự gia cố, sửa chữa, nâng cấp căn nhà của mình để đảm bảo an toàn. Nếu bên đã được thông báo không tự thực hiện việc gia cố, sửa chữa, nâng cấp căn nhà thì mọi thiệt hại sẽ tự gánh chịu. Các chi phí, gồm: Chi phí cho việc tách cột chung, đà dọc nhà chung và mái nhà bằng bê tông chung thì bên nào tiến hành xây dựng trước thì bên đó chịu. Các chi phí cho việc sửa chữa, gia cố, nâng cấp căn nhà của bên nào thì bên đó tự chịu. Thuế và chi phí thực hiện các thủ tục sang tên, tách thửa do bà A, ông T chịu.

* Ý kiến của bà A, ông T: Thống nhất, đồng ý với phương án mà bà N đưa ra để giải quyết dứt điểm vụ kiện.

* Tại văn bản ngày 12/11/2025, người đại diện Ngân hàng N1 – C4 có ý kiến xác nhận: Ngày 10/10/2025, ông Lư Trung T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc B1 đã hoàn trả đầy đủ số tiền gốc, lãi tất toán khoản vay tại Ngân hàng và A2 Chi nhánh R đã thực hiện giao trả tài sản thế chấp lại cho ông T1, bà N theo quy định. Vì vậy A2 không còn liên quan gì đến vụ án của ông T1, bà N nên không tham gia tố tụng. Mong quý Tòa xem xét loại A2 khỏi vụ kiện, không còn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – An Giang phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử, vi phạm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các bên đương sự: trong quá trình giải quyết vụ án, các bên xác định chỉ tranh chấp quyền sử dụng đất, cụ thể là yêu cầu tách thửa quyền sử dụng đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà N, không tranh chấp chia di sản thừa kế, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không làm phát sinh quyền hay nghĩa vụ của các anh em bà A, bà N. Ngoài ra, đối với yêu cầu không tham gia tố tụng của Ngân hàng, do Ngân hàng có văn bản xác nhận bà N đã tất toán toàn bộ các khoản vay gốc, lãi cho Ngân hàng, phía Ngân hàng cũng đã hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N nên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định tư cách tham gia tố tụng của Ngân hàng cũng như các anh em của bà A, bà N không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký: Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về nội dung: Bà A và ông T yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất có diện tích qua đo đạc thực tế 153,1m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà N đứng tên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà A, ông T, đồng thời yêu cầu bà N, ông T1 có trách nhiệm tách thửa đối với quyền sử dụng đất nêu trên. Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bà N, ông T1 cũng đồng ý với yêu cầu của bà A, ông T. Các bên đều thống nhất với nhau về chi phí tháo dỡ, cải tạo, cũng như thuế, phí và không còn tranh chấp các nội dung nào khác nên có cơ sở để ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét