2. NỘI DUNG VỤ ÁN
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (ông Lê Nhật T) trình bày:
- Vào ngày 26/09/2019, bà Lê Thị P đã ký với ông Phạm Hải D một Hợp đồng ủy quyền giao toàn quyền cho ông D đối với thửa đất số 370, tờ bản đồ số 18, diện tích 400m², tại thôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (GCNQSDĐ số CM 258247 do Sở T5 cấp ngày 09/04/2018). Đến ngày 28/09/2019, lô đất này bị xâm hại khi bà B thực hiện các giao dịch "đứng đất giùm" cho ông D, lạm dụng quyền dân sự gây thiệt hại cho bà P. Cụ thể, trong ngày 28/09/2019, bà B ký 3 văn bản: hợp đồng chuyển nhượng mua đất từ ông D (vào buổi chiều); văn bản cam kết tài sản riêng với chồng là ông Nguyễn Viết L; và một "Giấy mua bán đất" viết tay bán ngược lại đất cho ông D (vào buổi sáng).
- Ngày 10/11/2019, ông D cùng một số người ép bà B sang tên lại nhưng bà B từ chối. Ngày 16/04/2020, ông D dùng giấy viết tay khởi kiện bà B nhưng sau đó rút đơn và vụ án được đình chỉ vào ngày 12/06/2020. Ngày 12/09/2020, hai bên dàn xếp ký giấy nhận nợ 700 triệu đồng để ông D trả lại sổ đỏ cho bà B. Ngay sau đó, vợ chồng bà B, ông L thực hiện tẩu tán tài sản bằng cách lập "Hợp đồng cho tặng quyền sử dụng đất" cho con trai là Nguyễn Trường V ngày 25/09/2020. Tuy nhiên, hợp đồng này có dấu hiệu gian lận khi chữ ký không phải của ông V và ông V không có mặt tại phòng công chứng. Tiếp đó, ngày 11/05/2021, bà B lại sắp đặt người giả mạo ông V để ký hợp đồng sang nhượng thửa đất cho bà Đồng Thị T1. Giao dịch này vi phạm Luật Công chứng, không ngay tình và nhằm mục đích tẩu tán tài sản. Đến ngày 23/12/2021, bà T1 lại đăng tin rao bán lô đất với giá 2,2 tỷ đồng.
Do đó, ngày 19/01/2022, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án:
1. Buộc bà Đồng Thị T1 chấm dứt ngay việc rao bán, chuyển dịch tài sản và giữ nguyên hiện trạng lô đất.
2. Buộc bà T1, bà B và người đóng giả ông V phải tường trình trung thực về giao dịch ngày 11/05/2021 (giá trị thực, người đóng giả là ai, động cơ là gì).
3. Tuyên bố vô hiệu các văn bản công chứng: Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D và bà B ngày 28/09/2019 tại Văn phòng C2; Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông V và bà T1 ngày 11/05/2021 tại Văn phòng C2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Hải D trình bày: Hợp đồng ngày 28/09/2019 giữa ông và bà B tại Văn phòng C3 là hoàn toàn ngay tình, đúng pháp luật nên việc bà P khởi kiện đòi tuyên vô hiệu là không có căn cứ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày: Việc nhận chuyển nhượng từ ông D (theo ủy quyền) là hợp pháp, bà đã thanh toán đầy đủ tiền nên không liên quan vụ án và xin từ chối tham gia tố tụng.
Bị đơn bà Đồng Thị T1 và người liên quan ông Nguyễn Viết L: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa nên không có ý kiến ghi nhận. Ông Nguyễn Trường V có đơn từ chối tham gia tố tụng.
Ông Nguyễn Đức L1 và bà Võ Thị P1 trình bày: Ngày 20/05/2022, vợ chồng ông bà mua lại thửa đất số 370 từ bà Đồng Thị T1. Giao dịch hoàn toàn hợp pháp, không biết bà P là ai và đất không có tranh chấp tại thời điểm mua, hiện đã được cấp GCNQSDĐ số CV 669942. Ông bà không đồng ý với các yêu cầu của nguyên đơn.
Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh Đ1 - Phòng G trình bày: Ngân hàng nhận thế chấp GCNQSDĐ số CV 669942 của vợ chồng ông L1, bà P1 ngày 26/10/2020 đúng quy định pháp luật và đề nghị xét xử vắng mặt.
Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị L2 (nay là Văn phòng C) trình bày: Các thời điểm tiếp nhận công chứng Hợp đồng ủy quyền (26/09/2019), Hợp đồng chuyển nhượng cho bà B (28/09/2019) và Hợp đồng chuyển nhượng cho bà T1 (11/05/2021) đều tuân thủ đúng quy định pháp luật. Tại thời điểm công chứng, đất không có tranh chấp hay bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K trình bày: Trình tự, thủ tục đăng ký biến động và xác nhận chuyển quyền từ ông V sang bà T1 vào ngày 17/05/2021 được thực hiện hoàn toàn đúng thẩm quyền và quy định pháp luật (theo Nghị định 43/2014/NĐ-CP).
Ông Vũ Ngọc T4 trình bày: Đầu tháng 4/2020, ông chỉ làm chứng với tư cách cá nhân khi vợ chồng ông L, bà B nhận tiền đặt cọc của bà P2 đối với 02 lô đất, ông không giữ tài liệu gì và từ chối tham gia tố tụng. Người làm chứng bà Nguyễn Thị P2 vắng mặt nên không có ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2025/DSST ngày 27/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P. Ngày 29/05/2026, bà Lê Thị P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy bản án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa nhận định quá trình tố tụng đúng pháp luật, nội dung kháng cáo của bà P không có căn cứ nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét