NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đợn khởi kiện ngày 13 tháng 01 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ty T và người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày:
- Công ty TNHH M là công ty sản xuất, chế biến tinh bột mì chịu sự quản lý về thuế bởi Cục Thuế tỉnh T (nay là T tỉnh Tây Ninh), phía công ty đã thực hiện nghĩa vụ về thuế đầy đủ vào các tháng 8,9,10,11,12 năm 2022 và tháng 01, 02 năm 2023, tuy nhiên Cục tỉnh T thời điểm đó lại không hoàn thuế cho công ty gây ra các thiệt hại rất lớn, ảnh hưởng đến việc kinh doanh mua bán cũng như uy tín của Công ty M. Cụ thể:
- Công ty M có gửi Cục tỉnh T hồ sơ đề nghị hoàn thuế của Công ty vào tháng 8, 9, 10, 11, 12 năm 2022 và tháng 01, 02 năm 2023, với tổng số tiền đề nghị hoàn thuế là 107.848.737.724 đồng (Một trăm lẻ bảy tỷ tám trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm ba mươi bảy ngàn bảy trăm hai mươi bốn đồng), nhưng Cục tỉnh T không hoàn thuế cho Cộng ty đúng thời gian theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật quản lý thuế:
- “Đối với hổ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế, chậm nhất là 40 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý thuế có thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế cho người nộp thuế hoặc không hoàn thuế cho người nộp thuế nếu hồ sơ không đủ điều kiện hoàn thuế”.
- Tuy nhiên, kể từ ngày chấp nhận hồ sơ hoàn thuế của Công ty M, đến hết thời hạn 40 ngày theo quy định, nhưng Cục tỉnh T không ban hành Quyết định hoàn thuế cho Công ty M, nên gây thiệt hại rất lớn cho Công ty, ảnh hưởng đến việc mua bán, kinh doanh và uy tín của công ty bị giảm sút rất nhiều. Do đó căn cứ vào khoản 3 điều 75 Luật quản lý thuế thì “Quá thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 điều này, nếu việc chậm ban hành quyết định hoàn thuế do lỗi của cơ quan quản lý thuế thì ngoài số tiền thuế phải hoàn trả, cơ quan quản lý thuế còn phải trả tiền lãi với mức 0,03%/ngày tính trên số tiển phải hoàn trả và số ngày chậm hoàn trả. Nguồn tiền trả lãi được chi từ ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước”.
Nay ty Minh Toàn T căn cứ vào các khoản 2, 3 thuộc điều 75 Luật quản lý thuế để yêu cầu Cục T thực hiện hoàn trả tiền chậm hoàn thuế với mức lãi suất là 0.03%/ngày số tiền hoàn trả, cụ thể như sau:
- 1. Số tiền nghị hoàn thuế tháng 08/2022 là 17.641.017.137 đồng; đã hoàn chậm 264 ngày x 0,03% nên phải trả tiền chậm hoàn thuế là 1.397.168.557 đồng
- 2. Số tiền nghị hoàn thuế tháng 09/2022 là 20.474.856.843 đồng; đã hoàn chậm 265 ngày x 0,03% nên phải trả tiền chậm hoàn thuế là 1.627.751.119 đồng
- 3. Số tiền nghị hoàn thuế tháng 10/2022 là 13.095.378.508 đồng; đã hoàn chậm 555 ngày x 0,03% nên phải trả tiền chậm hoàn thuế là 2.180.380.522 đồng
- 4. Số tiền nghị hoàn thuế tháng 11/2022 là 20.744.975.695 đồng; đã hoàn chậm 280 ngày x 0,03% nên phải trả tiền chậm hoàn thuế là 1.742.577.958 đồng.
- 5. Số tiền nghị hoàn thuế tháng 12/2022 là 8.392.509.541 đồng; đã hoàn chậm 282 ngày x 0,03% nên phải trả tiền chậm hoàn là 710.006.307 đồng.
- 6. Số tiền nghị hoàn thuế tháng 01/2023 là 17.500.000.000 đồng; đã hoàn chậm 235 ngày x 0,03% nên phải trả tiền chậm hoàn là 1.233.750.000 đồng.
- 7. Số tiền nghị hoàn thuế tháng 02/2023 là 10.000.000.000 đồng; đã hoàn chậm 235 ngày x 0,03% nên phải trả tiền chậm hoàn là 705.000.000 đồng.
Tổng cộng 07 mục nêu trên là: 9.596.634.463 đồng. Nay Công ty TNHH M khởi kiện yêu cầu Cục Thuế tỉnh T trả tiền chậm hoàn thuế cho Công ty TNHH M số tiền 9.596.634.463 đồng (Chín tỷ năm trăm chín mươi sáu triệu sáu trăm ba mươi bốn ngàn bốn trăm sáu mươi ba đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện bị đơn - bà Nguyễn Thị S trình bày:
- Trong hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH M, Cục tỉnh T đã thực hiện hoàn thuế cho Công ty M đầy đủ, đúng quy trình từ năm 2017 đến năm 2021. Riêng đối với kỳ hoàn thuế tháng 8, 9/2022: Cục Thuế tỉnh T đã thực hiện kiểm tra trước hoàn thuế theo Quyết định số 4854/QĐ-CTTNI ngày 04/10/2022. Trong quá trình kiểm tra, phát hiện dấu hiệu rủi ro về thuế liên quan đến một số doanh nghiệp trung gian đầu vào, trong đó có Công ty N – đơn vị bị nghi vấn mua bán hóa đơn bất hợp pháp. Căn cứ vào đó, Cục T đã tạm dừng hoàn thuế để phối hợp với các cơ quan chức năng xác minh.
- Sau khi có kết luận của cơ quan điều tra, ngày 31/7/2023, Cục T ban hành Quyết định hoàn thuế cho Công ty TNHH M với tổng số tiền hoàn là 38.231.474.843 đồng.
- Đối với kỳ hoàn thuế tháng 10, 11, 12/2022 và tháng 01, 02/2023: Cục T tiếp tục kiểm tra hồ sơ theo Quyết định số 1194/QĐ-CTTNI. Qua kiểm tra, phát hiện một số rủi ro: Hồ sơ hợp đồng mua bán hàng hóa chưa đảm bảo tính pháp lý, một số hóa đơn có nghi vấn khống và việc khai báo xuất khẩu hàng hóa chưa thống nhất. Doanh nghiệp không có ý kiến phản đối nội dung biên bản kiểm tra và đã có công văn cam kết không khiếu nại, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Căn cứ kết quả kiểm tra, Cục T ban hành Thông báo số 2137/TB-CTTNI ngày 28/3/2023 xác định hồ sơ chưa đủ điều kiện hoàn thuế, đồng thời chuyển hồ sơ có dấu hiệu vi phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Sau khi có kết luận điều tra, Cục T đã ban hành các quyết định hoàn thuế vào các ngày 24–26/6/2024.
- Xét về việc Công ty khởi kiện yêu cầu bồi thường theo đơn ngày 11/02/2025, Công ty nộp đơn khởi kiện Cục Thuế tỉnh T tại Tòa án nhân dân tỉnh, yêu cầu bồi thường thiệt hại do chậm hoàn thuế các kỳ nêu trên. Tuy nhiên, nội dung khởi kiện không phù hợp với Công văn số 1024/CVMT ngày 18/6/2024 do chính Công ty ban hành, trong đó khẳng định: đồng thuận với kết quả kiểm tra, cam kết không khiếu nại và không yêu cầu bồi thường. Do đó, Cục không chấp nhận yêu cầu bồi thường của phía nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/ST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M về việc yêu cầu Cục tỉnh T trả số tiền lãi do chậm hoàn thuế 07 kỳ gồm tháng 8,9,10,11,12/2022 và tháng 01,02/2023, tổng cộng 9.596.634.463 đồng. (Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chỉ phí tố tụng, án phí và tuyên cho các đương sự quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật).
- Ngày 04/06/2025, Công ty TNHH M là nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc chậm hoàn thuế không phải lỗi của Cục tỉnh T là hoàn toàn không đúng, trái với tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Tị và Tổng C đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại điện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét