NỘI DUNG VỤ ÁN:

 

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và lời khai của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

  • Ngày 07/05/2020, ông Phạm Văn Chục ký hợp đồng vay của bà Nguyễn Thị Hồng số tiền 3.150.000.000 đồng với lãi suất 01%/năm tại Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân. Khi ký hợp đồng vay tiền, ông Chục thế chấp GCNQSDĐ số AA349155 (số vào số cấp GCN: 02664 QSDĐ/TU) và GCNQSDĐ số AA349423 (số vào số cấp GCN: 02677 QSDD/TU) do UBND huyện Tân Uyên cấp ngày 08/10/2004 cho hộ ông Phạm Văn Chục. Trên thực tế, bà Hồng cho ông Chục vay với lãi suất cao gấp nhiều lần lãi suất thoả thuận trong hợp đồng.
  • Ngày 15/04/2021, bà Hồng yêu cầu ông Chục thế chấp thêm GCNQSDĐ số CX 827337 (Số vào số cấp GCN: CS05054) do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp ngày 08/10/2020 mang tên Phạm Văn Chục đối với thửa đất số 562, tờ bản đồ số 30, diện tích 840,4m² tại xã Bình Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (nay là phường Bình Cơ, Thành phố Hồ Chí Minh) bằng hình thức Hợp đồng ủy quyền số 2064, quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/04/2021 có thời hạn 05 năm tại Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân để bà Hồng toàn quyền quyết định nhằm đảm bảo khả năng trả nợ.
  • Tuy nhiên, sau khi có được Hợp đồng uỷ quyền và giữ GCNQSDĐ, bà Hồng tự ý chuyển nhượng cho chồng mình là ông Bùi Đức Xuất với giá 50.000.000 đồng bằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/05/2021 tại Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân (số công chứng: 3259, quyển số: 02 TP/CC-SCC/HĐGD). Sau khi ông Bùi Đức Xuất được cấp GCNQSDĐ số DA 736867 ngày 25/06/2021, vợ chồng ông Xuất, bà Hồng đã tặng cho con rể và con gái là ông Nguyễn Hoài Thương và bà Bùi Thị Hồng Xứ thông qua Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 27/06/2022 (số công chứng: 2921, quyển số: 02 TP/CC-SCC/HĐGD).
  • Đến ngày 28/06/2024, ông Nguyễn Hoài Thương và bà Bùi Thị Hồng Xứ đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trương Chí Hoàng với giá ghi trên hợp đồng là 200.000.000 đồng (số công chứng: 1723, quyển số: 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích Trâm) , nhưng giá chuyển nhượng thực tế là 1.700.000.000 đồng. Nay ông Hoàng tiếp tục chuyển nhượng cho ông Nguyễn Quốc Vũ trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Nguyên đơn cho rằng gia đình bà Hồng liên tục thực hiện các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế và chiếm đoạt tài sản bảo đảm, xâm phạm quyền lợi của ông Chục. Hiện hợp đồng vay đã thanh lý xong nhưng nguyên đơn vẫn chưa nhận lại được thửa đất số 562.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:

  • Tuyên bố vô hiệu các hợp đồng sau:
    • Hợp đồng ủy quyền lập ngày 15/04/2021 giữa ông Phạm Văn Chục và bà Nguyễn Thị Hồng (số công chứng 2064, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân).
    • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/05/2021 giữa ông Phạm Văn Chục (do bà Hồng đại diện) và ông Bùi Đức Xuất (số công chứng 3259, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân).
    • Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 27/06/2022 giữa ông Bùi Đức Xuất, bà Nguyễn Thị Hồng với ông Nguyễn Hoài Thương, bà Bùi Thị Hồng Xứ (số công chứng 2921, quyền số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Võ Văn Nhân).
    • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 28/06/2024 giữa ông Nguyễn Hoài Thương, bà Bùi Thị Hồng Xứ với ông Trương Chí Hoàng (số công chứng 1723, quyển số 01/2024 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích Trâm).
  • Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi các GCNQSDĐ:
    • GCNQSDĐ số DA 736867, số vào sổ: CS06019 do Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Bắc Tân Uyên cấp ngày 25/06/2021 cho ông Bùi Đức Xuất.
    • GCNQSDĐ số DG 515592, số vào sổ: CS07028 do Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Bắc Tân Uyên cấp ngày 21/07/2022 cho ông Nguyễn Hoài Thương và bà Bùi Thị Hồng Xứ, đã cập nhật biến động cho ông Trương Chí Hoàng ngày 12/07/2024.
    • GCNQSDĐ số AA 03298961 do Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Bắc Tân Uyên cấp cho ông Nguyễn Quốc Vũ ngày 08/8/2025.
  • Kiến nghị cấp lại GCNQSDĐ cho ông Phạm Văn Chục theo quy định.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng trình bày:

Năm 2021, vợ chồng bà nhận chuyển nhượng của ông Chục thửa đất số 562 với số tiền 1.000.000.000 đồng. Do ông Chục đang thế chấp sổ tại Ngân hàng Thiên Long (TP. Thủ Dầu Một), bà đã đưa trước 800.000.000 đồng để ông Chục tất toán lấy sổ ra giao cho bà giữ. Ngày hôm sau, hai bên đến Văn phòng Công chứng Võ Văn Nhân ký hợp đồng uỷ quyền toàn quyền cho bà Hồng, tại đây bà giao nốt 200.000.000 đồng còn lại cho ông Chục. Việc giao nhận tiền không lập văn bản vì bà nghĩ đã ký ủy quyền toàn quyền thì không cần thiết.

Sau đó bà Hồng sang tên cho chồng là ông Bùi Đức Xuất (được cấp sổ ngày 25/6/2021). Đến ngày 17/6/2022, vợ chồng bà ký hợp đồng tặng cho vợ chồng con gái (ông Thương, bà Xứ, cấp sổ ngày 21/7/2022). Sau đó con gái bà đã chuyển nhượng lại cho người khác.

Về quan hệ vay mượn khác: Ngày 07/5/2020, bà và vợ chồng ông Chục, bà Trông có ký hợp đồng vay 3.150.000.000 đồng, thế chấp 02 GCNQSDĐ số AA349155 và AA349423, thời hạn vay 1 năm. Ngày 12/5/2021, hai bên thanh lý hợp đồng này và ký tiếp hợp đồng vay mới số tiền 3.815.000.000 đồng, thế chấp sổ AA349155. Ngày 31/12/2021, tiếp tục ký hợp đồng vay 5.000.000.000 đồng. Sau khi thanh lý, ngày 07/10/2022, gia đình ông Chục ký hợp đồng vay tiếp 9.000.000.000 đồng và tiếp tục thế chấp sổ AA349155. Khoản vay này hiện quá hạn chưa trả và đang tranh chấp tại Tòa án nhân dân Khu vực 17. Bà Hồng khẳng định các hợp đồng vay này hoàn toàn không liên quan đến thửa đất 562.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • Bà Bùi Thị Hồng Xứ: Đồng ý với lời khai của mẹ (bà Hồng). Việc nhận tặng cho và chuyển nhượng lại cho ông Trương Chí Hoàng với giá 1.700.000.000 đồng là hoàn toàn hợp pháp. Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Ông Trương Chí Hoàng: Nhận chuyển nhượng thửa đất số 562 từ vợ chồng ông Thương, bà Xứ ngày 28/6/2024 với giá 1.700.000.000 đồng, đã thanh toán đủ và được cập nhật sang tên ngày 12/7/2024. Việc nhận chuyển nhượng là ngay tình, đúng quy định. Đến tháng 07/2025, do cần tiền nên đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Quốc Vũ với giá 1.800.000.000 đồng. Không đồng ý với yêu cầu của ông Chục.
  • Ông Phạm Văn Lành (đại diện bà Lê Ngọc Trông): Thống nhất toàn bộ ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Văn Chục, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
  • Ông Nguyễn Quốc Vũ: Nhận chuyển nhượng thửa đất từ ông Trương Chí Hoàng ngày 18/7/2025 với giá 1.800.000.000 đồng, đã trả đủ tiền, nhận bàn giao đất và được cấp GCNQSDĐ ngày 08/8/2025. Việc mua bán hoàn toàn ngay tình, hợp pháp, cơ quan nhà nước cho phép chuyển nhượng, thời điểm mua không được thông báo về việc đất đang tranh chấp. Đề nghị Tòa án giải quyết bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn Bi trình bày: Trước đây có hỏi mua thửa đất của vợ chồng ông Chục, nhưng ông Chục nói đã chuyển nhượng cho bà Hồng. Sau đó ông Bi hỏi bà Hồng có bán lại không thì bà Hồng nói để sử dụng chứ không bán.

PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2025/DS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn Chục với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng về việc “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”.
  • Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và kiến nghị Chi cục thuế Khu vực Tân Uyên truy thu thuế đối với các giao dịch liên quan đến thửa đất 562 của các bên do có sự chênh lệch giữa giá trị trên hợp đồng và thực tế.

Ngày 15/9/2025, ông Phạm Văn Chục và bà Lê Ngọc Trông nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

DIỄN BIẾN TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM:

  • Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Bị đơn không đồng ý với kháng cáo.
  • Người bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn tranh luận: Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như: Thay đổi Hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử nhưng không xét xử lại từ đầu; không đưa các tổ chức công chứng tham gia với tư cách người liên quan; đưa ông Nguyễn Quốc Vũ vào tham gia tố tụng sau khi mở phiên tòa nhưng không thực hiện lại thủ tục công khai chứng cứ, hòa giải lại. Áp dụng sai pháp luật khi không đánh giá đúng bản chất giao dịch giả tạotài sản chung vợ chồng. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không thể khắc phục được khi thay đổi Hội thẩm nhân dân trong quá trình xét xử nhưng không tiến hành xét xử lại từ đầu theo Điều 226 BLTTDS; không đưa đầy đủ tổ chức công chứng tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ về xét xử lại.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét