NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án sơ thẩm:
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
ông Huỳnh H trình bày:
Năm 1966 ông Huỳnh H nhận chuyển nhượng diện tích đất 1470m² (thửa số 50)
tọa lạc tại Thôn G, xã G của ông Trần Hoành. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất,
để kết nối với đường giao thông đã có lối đi (đường mòn) bề rộng khoảng hơn 3m
dẫn vào đất. Ông H và gia đình canh tác làm nhà ở trên đất và sử dụng lối đi
này liên tục, cho đến năm 1997 được đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là thửa số 50 có thể hiện lối đi trên bản đồ vị trí đất và sơ đồ giải thửa 299
do Nhà nước quản lý. Đến năm 2000 ông H chuyển ra thửa đất khác sinh sống để tiện
chăm sóc cha mẹ và chuyển nghề sang kinh doanh xe khách, cơ sở sản xuất gạch;
còn thửa đất số 50 ông H đã trồng cây dừa, thỉnh thoảng có vào đất để chăm sóc
cây trồng. Thời điểm này, lối đi vào đất vẫn còn và chưa bị ai tác động lấn chiếm.
Đến năm 2001 bà Huỳnh Thị L (em ruột của ông H) xây dựng một căn nhà gạch
(để làm nhà máy xay xát gạo) lấn chiếm ra lối đi. Do là em ruột nên sau khi
phát hiện bà L xây dựng xong căn nhà, ông H không báo chính quyền địa phương. Từ
sau thời điểm bà L xây nhà, để vào đất ông H phải đi nhờ qua đất của ông Trần
Văn Q vị trí cạnh vách nhà máy gạo của bà L; cho đến khoảng năm 2020 ông Q đã
trồng cây, dẫn đến không còn lối đi nào để vào được thửa đất số 50 của ông H. Từ
đó, ông H làm đơn tranh chấp gửi đến Ủy ban nhân dân xã G để tiến hành hòa giải
mở lối đi. Qua hòa giải nhưng không đi đến thống nhất, do đó ông H khởi kiện
yêu cầu mở lại lối đi từ thửa đất số 50 của ông H để ra đường ĐT 720, buộc bà
Huỳnh Thị L phải tháo dỡ công trình xây dựng trả lại lối đi ở phía trước có diện
tích đo đạc là 61,8m² và ông Trần Văn Q di dời cây trồng trả lại lối đi ở phía
sau có diện tích đo đạc là 44,9m². Đồng thời, yêu cầu giải quyết chi phí tố tụng
theo luật định.
Bị đơn bà Huỳnh Thị L trình bày: bà là em ruột của ông Huỳnh H. Bà L kết
hôn với ông Lê Đ, được gia đình ông Đ tặng cho diện tích đất 1330m² (thửa số
59) tọa lạc tại Thôn G, xã G để sử dụng từ năm 1978. Vị trí thửa đất số 59 tiếp
giáp đường giao thông ĐT 720 và đất ông Trần Văn Q. Tại vị trí dọc theo ranh giới
giữa đất bà L với đất ông Q có một lối đi (đường mòn) để dẫn vào đất của ông Huỳnh
H ở phía sau, lối đi này đã có trước thời điểm bà L sử dụng đất. Ranh giới giữa
đất bà L với lối đi này trước đây có trồng một hàng cây chè tàu, bên này hàng
cây là đất của bà L và bên kia hàng cây là lối đi dẫn vào đất ông H. Vợ chồng
bà L canh tác làm nhà ở trên đất và sử dụng liên tục, cho đến năm 1997 được đo
đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 59. Đến năm 2001 vợ chồng
bà L xây dựng căn nhà gạch ở vị trí giáp với lối đi dẫn vào đất ông H, tiến
hành phá bỏ hàng cây chè tàu rồi mở móng xây nhà, xây hàng rào gạch dọc theo
ranh giới với đất ông Q. Quá trình xây dựng không có ai ngăn cản, tranh chấp,
sau đó bà L đã sử dụng căn nhà này để mở cơ sở kinh doanh xay xát lúa gạo liên
tục cho đến nay. Vợ chồng bà L, ông Đ sử dụng đất đúng với ranh giới, không có
lấn chiếm đất cũng như lối đi dẫn vào đất của ông H, nên hiện nay ông H khởi kiện
yêu cầu bà L tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại diện tích đất 61,8m² làm lối
đi, bà L không chấp nhận.
Bị đơn ông Trần Văn Q trình bày: ông Trần Văn Q sử dụng thửa đất số 58 tại
Thôn G, xã G có nguồn gốc do cha mẹ ông (ông Trần C, bà Phan Thị S) để lại. Vị
trí thửa đất tiếp giáp đường giao thông ĐT 720 và đất bà Huỳnh Thị L bên cạnh,
ông Huỳnh H ở phía sau. Trước đây, tại vị trí dọc theo ranh giới giữa đất ông Q
với đất bà L có một lối đi (đường mòn) để dẫn vào đất của ông Huỳnh H ở phía
sau, lối đi này đã có từ khi ông H sử dụng đất năm 1966. Quá trình sử dụng đất,
ông Q sử dụng đúng với ranh giới, không có xê dịch ranh giới hay lấn chiếm đất.
Năm 2009 ông Q có yêu cầu đo đạc lại thửa đất số 58, khi chỉ dẫn đo đạc, ông Q
đã chỉ đúng ranh giới đất, không tính phần đất làm lối đi vào đất của ông H và
đất của ông Q có biến động giảm về diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất từ 1350m² giảm còn 980m². Thửa đất số 58 của ông Q được tách thửa thành thửa
số 566, 567, đã chuyển nhượng thửa 567 cho bà Huỳnh Thị L, còn thửa đất số 566
gia đình ông Q tiếp tục sử dụng, với diện tích là 556m² có chiều dài cạnh phía
trước 18m (đo ở vị trí cách tim đường ĐT 720 là 15m), cạnh phía sau giáp đất
ông H là 13m. Hiện nay, ông Q đề nghị xem xét diện tích thực tế mà ông đang sử
dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 097595 đã thể hiện chiều dài
các cạnh của thửa đất để giải quyết mở lại lối đi cho ông Huỳnh H nhằm đảm bảo
quyền lợi cho các bên. Trường hợp qua kiểm tra đo đạc thực tế, đất mà ông Q
đang sử dụng có dôi dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì ông Q đồng
ý giao lại phần đất dư để Nhà nước mở lại lối đi chung vào đất ông H và đồng di
dời tài sản trên phần này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T do ông Nguyễn Văn L2 đại diện theo ủy quyền trình bày: về xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng lối đi tranh chấp và quan điểm, ý kiến trong vụ án, đại diện Ủy ban nhân dân xã G trước đây đã có trình bày đầy đủ với Tòa án tại Biên bản xác minh lập ngày 14/01/2025, nên hiện nay ông L2 giữ nguyên quan điểm, thống nhất và khẳng định tính chính xác khách quan đối với toàn bộ ý kiến mà đại diện Ủy ban nhân dân xã G đã trình bày ngày 14/01/2025. Hiện nay, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân xã G, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết tranh chấp về lối đi trong vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự, đồng thời giải quyết mở lại lối đi cho đương sự để đảm bảo việc đi lại, thuận tiện trong việc canh tác sử dụng đất. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, địa phương sẽ phối hợp với cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để tổ chức thi hành theo bản án và quản lý phần đất làm lối đi này theo quy định pháp luật.
Ông Lê Văn P, ông Lê Thành T2, ông Lê Thành T1 trình bày: các ông là con
của bà Huỳnh Thị L và ông Lê Đ. Ông P thống nhất như trình bày của bà L và ông
Đ về các vấn đề có liên quan trong vụ án.
Bà Lê Thị P1 trình bày: bà P1 là vợ ông Trần Văn Q. Vợ chồng bà P1, ông Q
đang sử dụng thửa đất số 566, tờ bản đồ số 17 tại Thôn G, xã T có nguồn gốc do
ông C, bà S để lại. Trong quá trình sử dụng đất không tranh chấp, lấn chiếm hoặc
cản trở quyền sử dụng đất của ai, đề nghị xem xét diện tích thực tế mà vợ chồng
ông, bà đang sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 097595 đã thể
hiện chiều dài các cạnh của thửa đất để giải quyết mở lại lối đi cho ông Huỳnh
H nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên. Trường hợp qua kiểm tra đo đạc thực tế, đất
mà vợ chồng bà P1, ông Q đang sử dụng có dôi dư so với giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thì vợ chồng bà đồng ý giao lại phần đất dư để Nhà nước mở lại lối đi
chung vào đất ông H và đồng ý di dời tài sản trên phần này.
Bà Trần Thị N1 trình bày: bà N1 là con của ông Trần Văn Q và bà Lê Thị
P1; bà N1 thống nhất như ý kiến của ông Q, bà P1 trình bày và không có yêu cầu
gì trong vụ án.
Bà Trần Thị L1 trình bày: bà L1 là vợ của ông Huỳnh H. Bà L1 thống nhất
như yêu cầu khởi kiện và ý kiến trình bày của ông H trong quá trình giải quyết
vụ án.
Ông Lê Đ trình bày: thửa đất số 59 mà gia đình ông Đ đang sử dụng tại
Thôn G, xã G có nguồn gốc của cha mẹ ông Đ là ông Lê C1, bà Nguyễn Thị N2 tặng
cho, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 292031 ngày 10/10/1998.
Gia đình ông Đ canh tác sử dụng đất liên tục, ổn định, không tranh chấp với ai,
quá trình sử dụng đất đã xây dựng nhà, hàng rào, công trình phụ đúng với thực tế
ranh giới, sử dụng trong phạm vi ranh giới thửa đất, không có lấn đất của ai.
Việc ông H khởi kiện cho rằng gia đình ông Đ lấn chiếm đất làm lối đi vào đất
ông H là không đúng nên ông Đ không chấp nhận yêu cầu của ông H.
Bà Trần Thị H1, ông Trần Quang N, ông Trần Văn K trình bày: bà H1, ông N,
ông K đều là con của ông Trần Văn Q và bà Lê Thị P1. Bà H1, ông N và ông K
không rõ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của gia đình nên thống nhất với ý
kiến, trình bày của ông Q, bà P1 mà không trình bày nội dung gì khác và không
có yêu cầu gì trong vụ án.
Vụ án được Tòa án nhân dân khu vực 16 - Lâm Đồng tiến hành hòa giải nhưng
không thành. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 04/8/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 16 - Lâm Đồng, quyết định:
Căn cứ vào:
Khoản 9 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; khoản 1 Điều
147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165; các Điều 227, 228, 271; khoản 1 Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025 theo Luật số
85/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội);
- Các Điều 175, 254 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 8 Điều 26 Luật Đất đai năm 2024;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh H:
1.1. Khôi phục lại lối đi chung từ thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17 (nay
là thửa 18, tờ bản đồ số 164), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 292015 do
UBND huyện T cấp ngày 19/10/1998 đứng tên hộ Huỳnh H tại Thôn G, xã T ra đường
Đ giới hạn lối đi bởi các điểm tọa độ 18-19-13-14-18 theo Phiếu đo đạc chỉnh lý
thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ1 lập ngày 21/5/2025.
Buộc bà Huỳnh Thị L và ông Lê Đ phải tháo dỡ công trình do mình xây dựng
nằm trên diện tích đất 61,8m² thuộc lối đi chung giới hạn bởi các điểm tọa độ
13-14-18-13 theo Phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ1 lập
ngày 21/5/2025.
- Ông Trần Văn Q, bà Lê Thị P1 phải di dời tài sản nằm trên diện tích đất
44,9m² thuộc lối đi chung giới hạn bởi các điểm tọa độ 18-19-13-18 theo Phiếu
đo đạc chỉnh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ1 lập ngày 21/5/2025.
Có phiếu đo đạc chỉnh lý thửa đất do Chi nhánh Văn phòng Đ1 lập ngày 21/5/2025 kèm theo.
1.2. Ông Huỳnh H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thị L và ông Lê Đ số tiền 15.798.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn đồng) tiền giá trị công trình trên đất bị thiệt hại phải tháo dỡ, di dời.
2. Về chi phí tố tụng:
- Buộc bà Huỳnh Thị L phải chịu và hoàn trả lại cho ông Huỳnh H số tiền
9.334.000 đồng (chín triệu ba trăm ba mươi bốn nghìn đồng) chi phí tố tụng.
- Buộc ông Trần Văn Q phải chịu và hoàn trả lại cho ông Huỳnh H số tiền
6.759.000 đồng (sáu triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn đồng) chi phí tố tụng.
3. Về án phí: miễn nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Huỳnh H, bà
Huỳnh Thị L và ông Trần Văn Q.
Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án,
quyền kháng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án và thời hiệu thi
hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/8/2025 bị đơn bà Huỳnh Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm,
yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày
04/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Lâm Đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh H về việc buộc bị đơn tháo dỡ tài sản và trả lại đất cho nguyên đơn.
- Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đúng quy định; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật.
- Về nội dung: kháng cáo của bị đơn không có chứng cứ gì mới, không có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét