NỘI DUNG VỤ ÁN:

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương L trình bày:

  • Ngày 06/12/2021, Văn phòng C cử hai ông Đoàn Phạm Sơn TĐặng Thành N (nhân viên văn phòng) đến địa chỉ 822 Nguyễn Duy T1, P, T để công chứng hợp đồng vay tiền số 5522, quyển 12/2021.
  • Ngày 07/12/2021, bà L và ông Phạm Khánh D ký kết giao dịch vay mượn số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Do hai nhân viên trên lừa dối họ là công chứng viên nên các bên tin tưởng giao nhận tiền. Nay ông D không có khả năng trả nợ (do ông D cũng bị lừa và tin tưởng Văn phòng C).
  • Bà L yêu cầu Tòa án:
    • Tuyên vô hiệu hợp đồng vay tiền số 5522 ngày 06/12/2021 (công chứng ngày 07/12/2021) do không có mặt công chứng viên chứng kiến, điểm chỉ tại thời điểm ký.
    • Buộc Văn phòng C trả lại 1.000.000.000 đồng tiền gốc thiệt hại và bồi thường tiền lãi theo lãi suất ngân hàng từ ngày 06/12/2021 đến 21/04/2025 (tạm tính 40 tháng x 20%/năm = 668.800.000 đồng). Tổng cộng yêu cầu là 1.668.800.000 đồng.

Bị đơn Văn phòng C trình bày:

  • Ngày 06/12/2021, ông D và bà L có phiếu yêu cầu chứng nhận Hợp đồng vay tiền. Do dịch bệnh Covid-19 và chưa có kết quả PCR nên hai bên không thể đến trụ sở, yêu cầu hỗ trợ lấy chữ ký ngoài trụ sở tại quận Thủ Đức, TP.HCM.
  • Văn phòng cử Công chứng viên Trần Quang T2, chuyên viên Đoàn Phạm Sơn T và tài xế Đặng Thành N đi lấy chữ ký. Tuy nhiên do đoạn đường bị phong tỏa, ông T2 không đến được nên Văn phòng từ chối chứng nhận, hẹn hôm sau khi có đủ giấy tờ và kết quả PCR.
  • Do ông D cần tiền gấp nên hai bên đã tự nhờ ông Đoàn Phạm Sơn T ký tên với tư cách cá nhân làm chứng việc giao nhận tiềngiữ hộ giấy tờ. Ngày 07/12/2021, các bên đến trụ sở Văn phòng C và được Công chứng viên thực hiện chứng nhận Hợp đồng vay tiền số 5522 đúng quy trình, hồ sơ không bị ngăn chặn.
  • Văn phòng C không đồng ý yêu cầu khởi kiện vì giao dịch đảm bảo về mặt chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức. Đồng thời đã hết thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu. Việc giao nhận tiền và thực hiện hợp đồng là do các bên tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, Văn phòng C không có lỗi và không có nghĩa vụ bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Khánh D (ông Vũ Thanh N1 đại diện) trình bày:

  • Ông D vay tiền của bà L để thực hiện giao dịch mua đất và đã lập hợp đồng ủy quyền toàn phần thửa đất cho bà L. Tuy nhiên Văn phòng C giữ hồ sơ suốt 21 ngày, trì trệ nghiệp vụ và chỉ thông báo ngăn chặn khi đã hết cơ hội xử lý, dẫn đến mục đích giao dịch thất bại, ông D mất khả năng trả nợ. Ông D đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Thành N và ông Đoàn Phạm Sơn T trình bày:

  • Xác nhận ngày 06/12/2021 ông N làm tài xế, ông T làm thư ký nghiệp vụ hỗ trợ lấy chữ ký nhưng bất thành do giãn cách. Việc ông T ký làm chứng giao nhận tiền là tự phát với tư cách cá nhân theo đề nghị của bà L và ông D. Ngày 07/12/2021, các bên đã đến trụ sở gặp trực tiếp Công chứng viên Hồ Thị Hồng L1 để chứng nhận hợp đồng đúng pháp luật. Cả hai ông xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VÀ PHÁN QUYẾT SƠ THẨM:

Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành kiểm tra chứng cứ và hòa giải nhưng không thành. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2025/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh đã tuyên xử:

  • Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương L đối với Văn phòng C.
  • Về án phí: Bà Nguyễn Thị Phương L phải chịu 62.364.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp 31.332.000 đồng, phải nộp tiếp 31.032.000 đồng.

Ngày 14/8/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. 

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà L thay đổi yêu cầu kháng cáo sang đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ thẩm không đưa Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là sai quy định; đồng thời Văn phòng C trả hồ sơ trễ khiến bà không thu hồi được nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm: 

  • Quá trình tố tụng tuân thủ đúng pháp luật. Về nội dung, Văn phòng C có vi phạm hành chính về địa điểm công chứng và quy trình ký điểm chỉ theo kết luận của Sở Tư pháp, nhưng đây chỉ là vi phạm thủ tục hành chính, không làm thay đổi bản chất hợp đồng vay tiền. Các bên không chứng minh được thiệt hại do lỗi của văn phòng công chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét