NỘI DUNG VỤ ÁN:

 

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Nhà thờ họ Lê (Họ ngoại) của chúng tôi đã được xây dựng cách đây gần 200 năm, trên một khu đất mà tổ tiên để lại thuộc thôn B, xã X (N là xã Đ) huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Có phía Nam và phía tây giáp vườn ông N1, Phía đông giáp vườn và nhà Bà T3, Phía bắc giáp vườn bà T4. Trong khuôn viên đất tổ tiên để lại này được chia làm 4 phần: Phần đất hương hỏa (Đây là khuôn viên nhà thờ họ Lê có Chiều rộng (theo hướng đông - tây) là 10,5m, chiều dài là 24m (Theo hướng nam - bắc) Tổng diện tích khuôn viên nhà thờ và đất nhà thờ là: 10,5m × 24 m = 252m²). Phần đất của bà C, phần đất của bà hai và phần đất của bà B3 (Bà C, Bà H14 và bà B3 là con của cụ Lê Văn S1).

Những năm 1980 bà H14 và bà B3 mất nên phần đất của hai bà được chuyển cho gia đình ông M, bà T5 (Nay phần đất này do ông Phạm Quang N1 -Con trai của ông M bà T5 sử dụng).

Phần đất của bà C để lại cho con gái là bà Hà Thị T6 sử dụng.

Do các phần đất, trong đó có phần đất của nhà thờ Tổ Họ Lê, thời các cụ, cùng chung 1 khuôn viên do các cụ để lại, nên có một con đường đi chung của cả 3 (Nhà bà T6, nhà thờ tổ họ Lê và nhà bà T5).

Sau này nhà bà T5 mở lối đi mới, con đường này chỉ có 2 nhà đi chung đó là nhà bà T6 và nhà thờ Tổ họ Lê. Con đường đi vào nhà thờ có diện tích là 2,2m x14m = 30,8m².

Sau này, việc xã lập hồ sơ địa chính; việc bà Hà Thị T6 chuyển nhượng phần đất và nhà cửa của cha mẹ để lại choThiều Thị T3 như thế nào chúng tôi không rõ.

Đến ngày 01/10/1996 gia đình bà Thiều Thị T3 được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSD đất mang tên Thiều Thị T3, diện tích 300m² Sau khi cấp GCNQSD đất, suốt cả thời gian dài bà Thiều Thị T3 không có ý kiến gì về tài sản đất đai do nhà nước cấp là 300m².

Từ đó đến năm 2018 nhà thờ Tổ họ Lê vẫn được con, cháu thường xuyên tôn tạo và dâng hương mỗi dịp giỗ các cụ, ngày tết, ngày rằm cũng như mỗi dịp con cháu về thăm quê.

Từ tết nguyên đán 2018 đến nay, gia đình bà Thiều Thị T3 tự ý chiếm đoạt luôn nhà thờ họ Lê và ngăn cản không cho con cháu vào thắp hương tổ tiên nữa. Vì không muốn xảy ra xô xát làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự của địa phương, từ đó đến nay mỗi khi giỗ, tết chúng tôi đành ngậm ngùi đưa đồ lên mộ các cụ để thắp hương, an ủi vong linh của các cụ.

Các căn cứ pháp lý từ 2014 đến nay:

- Tại báo cáo số 09/BC-KTXM ngày 14/03/2015 của Ủy ban nhân dân xã X (cũ) kiểm tra, xác minh vụ việc tranh chấp đất đai giữa dòng họ L và bà Thiều Thị T3 đã đưa ra đánh giá, kết luận: “Qua kiểm tra hiện trạng thấy rằng ranh giới thửa đất vườn bà T7 thị T3 đang sử dụng có một nhà thờ dòng họ Lê đã xây dựng từ lâu đời trên thửa đất đó. Trong quá trình sử dụng bà Thiều Thị T3 được nhà nước cấp giấy CNQSD đất với diện tích 300m². Khi cấp cán bộ chuyên môn đã căn cứ vào tờ khai của gia đình cũng như phần diện tích đất nhà thờ để cấp giấy CNQSD đất. Việc dòng họ L phản ánh có con đường đi vào nhà thờ là có cơ sở. Năm 1996 khi làm thủ tục cấp GCNQSD đất cho hộ bà T3 chỉ cấp có 300 m², khẳng định diện tích đất nhà thờ đã được trừ ra, không nằm trong diện tích đã được cấp giấy CNQSD đất cho bà T3. Khi hộ bà T6 chuyển nhượng cho hộ bà T3 không thể hiện chuyển diện tích đất nhà thờ.”

- Một số biên bản xác minh của công dân xác nhận có đường đi vào nhà thờ từ đường cái men theo dọc bờ ông bà Hoàn M1 (Bà Phan Thị N2, Hồ Thị H7, Thiều Thị C1, Lê Đình N3)

Bị đơn Thiều Thị T3 trình bày tại biên bản làm việc vào hồi 14 giờ ngày 12/01/2015: 

Tôi mua đất của bà T6 có anh Hà Văn H15 viết giấy bán (Ông H15 là cháu đằng chồng bà T6), bà T4 và bà B đã xác nhận vào đơn. Năm 1996, làm sổ đỏ chúng tôi đưa giấy mua đất cho ông xóm trưởng để làm cơ sở làm sổ đỏ. Khi bà T6 bán đất cho gia đình tôi là bán toàn bộ hết tất, bà T6 nói: “Cô già rồi về với cháu còn lại nhà thờ thì ai muốn về thắp hương thì về, không có ai về thì nhờ cháu thắp hương cho cô”. Như vậy theo thừa nhận của bà T3 thì bà T6 chỉ bán các phần đất khác thuộc sở hữu của bà T6 không bán đất nhà thờ và nhà thờ trên đất như nội dung trình bày của bà T3 hiện nay.

Điều này chứng tỏ rằng giấy mua bán đất của bà T6 cho bà T3 là căn cứ để các cấp chính quyền cấp GCNQSD đất cho bà T3 là 300m².

Lời của chị H (Con bà T3): “Ông H1 đến đòi đất, đòi đường lần này là lần thứ 6, đến từ thời bố tôi đang còn sống, khi gia đình tôi xây bờ rào ông cũng đến, đến khi đo đạc, cấp GCNQSD đất ông cũng đến đòi”. Chính điều này đã khẳng định thêm lần nữa: Nhà Thờ, đất nhà Thờ, đường đi vào nhà thờ của dòng họ ngoại chúng tôi gia đình bà Thiều Thị T3 đã lấn chiếm.

Theo văn bản số 1296/UBND-TNMT về việc cấp GCNQSD đất cho bà T7 thị Thân: Hiện trạng thửa đất 287, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299 đo đạc năm 1985) với diện tích 700m² đã được cấp giấy chứng nhận cho bà Thiều Thị T3 300m². Hiện trạng thửa đất 287 nay được xác định thuộc thửa đất 369 tờ bản đồ số 24 với diện tích 619m² (Do đã 2 lần nhà nước mở đường) thửa đất có hai đối tượng sử dụng đất là: Đất thuộc hộ gia đình, cá nhân sử dụng (đất ở, đất vườn) và đất cộng đồng dân cư sử dụng (Đất nhà thờ họ). Cho nên, thửa đất bà Thiều Thị T3 đang sử dụng nếu được nhà nước công nhận QSD đất thì phải trừ diện tích đất cộng đồng dân cư đang sử dụng và phải trừ phần diện tích mở đường.

Qua tất cả các biên bản xác minh, các văn bản của các cấp chính quyền thể hiện rõ: Đất nhà thờ, nhà thờ, đường đi vào nhà thờ là của dòng họ ngoại chúng tôi, gia đình bà T3 đã lấn chiếm, chiếm đoạt.

Trong bản tường trình lần 2 của bà Thiều Thị T3 đính chính là cha đẻ của bà Hà Thị T6 là ông Hà Văn Q1 và bà Nguyễn Thị N4 là không đúng sự thật. Tôi khẳng định bà Hà Thị T6 sinh ngày 10/06/1908. Con ông: Hà Văn P; con bà Lê Thị S2 (Bà cả). Nội dung này đã được Phòng C3 về TTXH trả lời Tòa án tại văn bản số 194 ngày 21/3/2023 cụ thể: Bà Hà Thị T6; nguyên quán: xã X (Nay là Đan T8), huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Họ tên cha: Hà Văn P, họ tên mẹ: Lê Thị S2; Số Chứng minh nhân dân 180393952 cấp ngày 23/08/1978 tại Công an tỉnh N.

Từ những nội dung trên chúng tôi kính đề nghị Tòa án buộc gia đình bị đơn bà Thiều Thị T3: Giao lại toàn bộ nhà thờ đã được xây dựng trên phần đất hương hỏa của tổ tiên họ L để lại cho con cháu nhà ngoại dòng họ Lê với diện tích sàn xây dựng theo kết quả thẩm định của Tòa án là 16.8m² và 01 sân bê tông có diện tích 6.6m².

- Tổng diện tích đất nhà thờ là 252 m². nhưng bên dòng họ ngoại của chúng tôi cũng chỉ tôn tạo lại nhà thờ để thờ cúng tổ tiên vào ngày giỗ của các cụ, ngày tết, ngày rằm. Vì thế tôi đề nghị: Tạm giao cho con cháu nhà ngoại dòng họ Lê phần đất hương hỏa của Tổ tiên theo kết quả thẩm định của Tòa án với diện tích 60,6m². Chúng tôi là con cháu họ ngoại dòng họ Lê sẽ liên hệ trực tiếp với các cơ quan có thẩm quyền đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà thờ Họ.

- Dỡ bỏ toàn bộ tường rào, dời dọn nhà xưởngcác công trình xây dựng trái pháp luật trên đất hương hỏa dòng họ Lê, đường đi vào nhà thờ họ Lê. Giao lại nguyên trạng đường đi vào nhà thờ tổ họ Lê có chiều rộng là 2,2m, chiều dài tính từ đường tỉnh lộ 546 đến phần đất được tạm giao giáp với hàng rào hộ gia đình bà Hoàn M1 (hiện giờ là bà M2 - Báu) đang ở.

Bị đơn bà Thiều Thị T3 và Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Thiều Thị T3 đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H trình bày: 

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì:

Thứ nhất, Thửa đất này trước khi tôi mua là đất của bà Hà Thị T6 quê ở xóm T. Năm 1970, tôi lấy ông Nguyễn Quang L1 về ở tại khu tập thể Bệnh viện, đến năm 1980 vợ chồng tôi mua của bà Hà Thị Tó không có chồng con thửa đất số 287 tờ bản đồ số 03 tại Xóm B, xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh với giá 370 đồng. Khi mua có lập giấy tờ có sự tham gia của tôi, chồng tôi ông Nguyễn Quang L1, bà Hà Thi T6 và ông Hà Văn H15 là cháu của bà Hà Thị T6, sau đó đưa ra xã xác nhận. Gia đình tôi mua của bà Hà Thị T6 của dòng họ H16 chứ không liên quan gì đến dòng họ Lê. Năm 1980, gia đình ông H1 cũng ở trong xóm cũng biết là gia đình tôi mua đất của bà Hà Thị T6, tại sau lúc đó không sang nhận nhà thờ mà bây giờ mới đòi nhận lại nhà thờ. Hơn nữa những người khởi kiện đều mang họ Nguyễn và họ Trần không liên quan đến dòng họ Lê nên không có quyền khởi kiện để đòi lại tài sản từ gia đình chúng tôi.

Thứ hai, chúng tôi mua của bà Hà Thị T6 sinh năm 1906 của họ H16 (có cha là Hà Văn Q1 mẹ là Nguyễn Thị N4) chứ không phải mua của bà Hà Thị T6 sinh ngày 10/06/1908 (Con ông: Hà Văn P; con bà Lê Thị S2) như nguyên đơn trình bày; bà Hà Thị T6 không chồng không con có bố là ông Hà Văn Q1 và mẹ bà Nguyễn Thị N4, ông nội là Hà Văn T9, bà nội là Nguyễn Thị Â tại xóm T, xã Đ. Mồ mả của bà Hà Thị T6 ông Hà Văn Q1 và bà Nguyễn Thị N4 ông nội là Hà Văn T9, bà nội là Nguyễn Thị Â nằm trong khuôn viên dòng tộc họ H16.

Thứ ba, gia đình chúng tôi mua đất từ năm 1981 đến năm 1985 và sử dụng ổn định không có tranh chấp. Đến năm 1985, bản đồ 299 xác định thửa đất 287 tờ bản đồ số 03 có tổng diện tích 700m² mang tên Nguyễn Quang L1. Đến năm 1986, sổ mục kê xác định thửa đất 287 tờ bản đồ số 03 có tổng diện tích 700m² mang tên Nguyễn Quang L1 được sử dụng chính thức. Mặc dù thửa đất được sử dụng ổn định không có tranh chấp, không có quyết định thu hồi đất nhưng đến năm 1996 không biết dựa vào đâu mà UBND huyện chỉ cấp cho gia đình tôi 300m². ranh giới của thửa đất vẫn ổn định. Đến năm 2014, khi tiến hành đo đạc lại đất thửa đất 287 thành thửa 369 thì diện tích được 619m² ít hơn so với trước đấy 81 m² lý do mở đường quốc lộ 8B.

Thứ tư, Trong Giấy bán nhà ngày 07/12/1981 giữa bà Hà Thị T6 và bị đơn đã ghi rõ “Với hoàn cảnh của tôi hiện tại quá già yếu không có ai nương tựa trong tuổi già mình yếu nên tôi tự nghĩ phải về với cháu tôi để giữ mình già yếu của đời tôi. Do đó cho nên tài sản của tôi phải nhường lại cho một người khác. Hiện nay với sự thống nhất giữa tôi và anh Nguyễn Quang L1 và cô Thiều Thị T3 cả hai anh chị đều là người của đội và cùng là người trong xã thoát ly đi làm cách mạng nay được nhà nước cho về hưu. – Tài sản hiện có: 

1) Nhà ở + bếp có gắn liền với nhà thờ .....”. 

Như vậy vào thời điểm năm 1981 khi lập Giấy bán nhà bà Hà Thị T6 đã bán nhà thờ cho phía chúng tôi.

Đối với con đường đi vào nhà thờ trước đây có 01 con đường đi vào nhà bà Hà Thị T6 rộng 1,5m và đi sang nhà thờ như nội dung tôi đã trình bày cũng như bản vẽ tôi nộp cho Tòa án và đã được Tòa án xem xét thẩm định.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ý kiến của anh Nguyễn Quang S và chị Phan Thị H5: Đồng ý với quan điểm của bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn; ngoài ra xưởng cưa được vợ chồng làm vào năm 2002 hiện nay nguyên đơn yêu cầu dời dọn xưởng cưa để trả lại con đường chúng tôi không nhất trí vì đây là đất được mẹ chúng tôi là bà T3 mua của bà T6 là tài sản của bà T3 nên chúng tôi có quyền làm xưởng cưa trên phần đất này.

- Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của người có quyền và nghĩa vụ liên quan UBND xã Đ (cũ): Giữ nguyên quan điểm theo văn bản số 77/CV-UBND của UBND xã Đ cụ thể: Về nguồn gốc, thời gian hình thành nhà thờ tại thửa đất số 287 tờ bản đồ số 03 bản đồ 299: Nhà thờ có nguồn gốc từ xa xưa, không ai xác định được mốc thời gian hình thành nhà thờ, nhà thờ nằm độc lập với nhà ở; Nhà thờ này dùng để thờ dòng họ L; Về con đường đi vào nhà thờ: Trước đây, nhà thờ đi chung với đường đi vào nhà bà T5. Vị trí hiện tại là chỗ xưởng cưa của con nhà bà T3 với chiều rộng khoảng 2-3m. Sau khi có Giấy bán nhà là cơ sở để xem xét nguồn gốc lịch sử. Ngoài 300m2 đã được cấp cho bà Thiều Thị T3 có Giấy CNQSD đất còn có diện tích đất thừa và diện tích đất nhà thờ. Nếu không có tranh chấp thì phần diện tích đất thừa sẽ được cấp cho hộ gia đình. Còn đối với diện tích đất nhà thờ thì theo quyết định của Tòa án, địa phương sẽ cấp cho người đó.

- Ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của người có quyền và nghĩa vụ liên quan UBND huyện N (cũ): Giữ nguyên quan điểm theo văn bản 1296/UBND-TNMT ngày 02/10/2018: Hiện trạng thửa đất 287, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299 đo đạc năm 1985) nay được xác định theo đo đạc bản đồ hiện trạng của xã Đ thuộc thửa đất số 369, tờ bản đồ số 65 với diện tích 619,3m2. Bà Thiều Thị T3 được Nhà nước công nhận QSD đất diện tích 619,3m2 với điều kiện sử dụng ổn định, thửa đất không có tranh chấp sử dụng đất. Tuy nhiên, qua kiểm tra hiện trạng sử dụng đất thửa đất có hai đối tượng sử dụng đất là: Đất thuộc hộ gia đình, cá nhân sử dụng (Đất ở, đất vườn) và đất cộng đồng dân cư sử dụng (đất nhà thờ họ). Cho nên, thửa đất bà Thiều Thị T3 đang sử dụng nếu được Nhà nước công nhận QSD đất thì phải trừ phần diện tích đất cộng đồng dân cư (đất nhà thờ họ, diện tích theo hiện trạng) và phải trừ phần diện tích mở đường. Phần đất còn lại thuộc về hộ gia đình cá nhân, cơ quan nhà nước không quản lý đối với diện tích đất này.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DSST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Hà Tĩnh):

Áp dụng các Điều 158, 163, 164, 165, 166, 169, 211 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 160, Điều 203 Luật đất đai; Khoản 5 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a, c Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 155, Khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Giao cho con cháu ngoại họ Lê ở thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh được quản lý, sử dụng 01 nhà thờ có diện tích 16,8m201 sân nhà thờ diện tích 6,6m2 (Có sơ đồ kèm theo bản án).

- Tạm giao cho con cháu ngoại họ Lê ở thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh diện tích đất 23,4m2 (Có sơ đồ kèm theo). Khi bản án có hiệu lực pháp luật con cháu ngoại họ Lê ở thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

- Buộc gia đình bà Thiều Thị T3, anh Nguyễn Quang S và chị Phan Thị Hồng D1 dọn nhà xưởng; tháo dỡ 1,5m hàng rào phía Đông cạnh giáp đường tỉnh lộ 546 để mở 01 lối đi chung có chiều rộng 1,5m, trong đó: Phía Đông cạnh giáp đường tỉnh lộ 546 có chiều rộng 1,5m, cạnh giáp phần đất chưa sử dụng của thửa 369 tờ bản đồ số 24 bản đồ đo đạc năm 2014 có chiều dài 8,91m; Phía Nam giáp hàng rào hộ ông Nguyễn Văn B1 có chiều dài 15,59m; Phía Tây giáp phần đất chưa sử dụng của thửa 369 tờ bản đồ số 24 bản đồ đo đạc năm 2014 có chiều dài 10,28m; Phía Bắc giáp phần đất chưa sử dụng của thửa 369 tờ bản đồ số 24 bản đồ đo đạc năm 2014 có chiều dài 13,04m. Tổng diện tích của con đường chung đi vào nhà thờ là 36,8m2 (Có sơ đồ kèm theo bản án).

2. Về lệ phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Công nhận sự tự nguyện của đương sự, nguyên đơn chịu toàn bộ số tiền lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá.

Ngoài ra án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự; Trong hạn luật định, ngày 04/9/2024 nguyên đơn Nguyễn Thị H kháng cáo nội dung án sơ thẩm, đề nghị tòa cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

Hủy bỏ một phần nội dung bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Hà Tĩnh)

- Hủy bỏ giấy bán nhà mà bị đơn cung cấp vì không đủ cơ sở pháp lý.

- Buộc bị đơn:

+ Trả lại phần đất hương hỏa mà tổ tiên họ Lê để lại theo yêu cầu của tôi trước tòa án sơ thẩm đó là thửa đất 719 với diện tích là 60,6m² để chúng tôi sửa chữa, tôn tạo lại nhà thờ;

+ Trả lại nguyên trạng đường đi vào nhà thờ Tổ họ Lê với chiều rộng là 2,2m chứ không phải 1,5m như trả lời của bị đơn trước tòa.

+ Dỡ bỏ tường rào, dời dọn nhà xưởng và các công trình xây dựng trái pháp luật trên đất hương hỏa dòng họ L, đường đi vào nhà thờ Tổ họ Lê.

Ngày 28/8/2024 bị đơn Thiều Thị T3 kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm; Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của các đương sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của BLTTDS năm 2015:

Không chấp nhận nội kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị H; bị đơn Thiều Thị T3. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Hà Tĩnh);

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự;

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét