NỘI DUNG VỤ ÁN:【Bản án hình sự sơ thẩm số 204/2023/HS-ST】

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố về hành vi phạm tội như sau: 

Nguyễn Văn Tình và vợ là Nguyễn Thị Chí Sương thành lập Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại - Dịch vụ Sài Gòn Cây Cảnh, tại địa chỉ 244 Nguyễn Văn Hưởng, phường Thảo Điền, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là thành phốThủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4102009140 ngày 27/7/2004, của Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp, kinh doanh ngành nghề mua bán nhà, cây cảnh..., vốn điều lệ là 4 tỷ đồng, do (Sương làm Giám đốc, Tình là thành viên). 

Ngày 07/6/2008, Công ty TNHH Xây dựng - Thương mại - Dịch vụ Sài Gòn Cây Cảnh chuyển đổi thành Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh (sau đây gọi tắt Công ty Sài Gòn Cây Cảnh) theo Giấy chứng nhận kinh doanh số 41030310552, Sương - Tình tự kê khai vốn điều lệ 300 tỷ đồng

Sau 4 lần thay đổi giấy phép kinh doanh, đến ngày 05/01/2010, Công ty Sài Gòn Cây Cảnh có 4 cổ đông gồm Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương, Đặng Đức Trung (trú tại số 290/33/76 đường Nơ Trang Long, Phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh ) và ông Hoàng Quốc Võ (trú tại thôn Phú Lĩnh, xã Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), tự kê khai vốn điều lệ là 500 tỷ đồng, trong đó Tình, Sương giữ 58% cổ phần, Đặng Đức Trung giữ 30% cổ phần, ông Hoàng Quốc Võ giữ 12% cổ phần, do Nguyễn Văn Tình làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc. Thực tế các cổ đông không góp vốn, chỉ đứng tên mang tính danh nghĩa, mọi hoạt động của Công ty Sài Gòn Cây Cảnh đều do Tình và Sương điều hành, quyết định. 

Năm 2004, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương mua được 35.682m2 đất tại xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai để làm vườn ươm, cây cảnh (thửa đất số 286, diện tích 15.871m2 được UBND huyện Long Thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 31/7/2003 mang tên Nguyễn Văn Tình; thửa đất số 237, diện tích 20.311m2 được UBND huyện Long Thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/6/2004, mang tên Nguyễn Thị Chí Sương, ngày 04/4/2007, Sương chuyển nhượng cho bà Trần Thị Ánh Hồng 500 m2, diện tích còn lại là 19.811m2 ). 

Cuối năm 2006, Tình và Sương có ý định thực hiện dự án khu dân cư tại xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) nên đã mua thêm 03 thửa đất có tổng diện tích 66.018 m2 tại xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, tăng tổng diện tích đất lên 101.700m2 (Thửa đất số 236, diện tích 19.414m2 ; thửa đất số 707, diện tích 20.058m2 ; thửa đất số 180, diện tích 26.546m2; ngày 04/5/2007 và 22/6/2007 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Long Thành điều chỉnh cho Nguyễn Thị Chí Sương đứng tên). 

Cuối năm 2006, qua giới thiệu của bà Võ Thị Tuyết Vân (trú tại ấp Long Đức 2, xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai), Nguyễn Văn Tình đã gặp ông Lê Đình Tài (sinh năm 1950, trú tại 184/19B, Khu phố 4, phường Tân Tiến, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) là Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Hà Linh (Công ty Hà Linh), để nhờ ông Tài liên hệ với các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai xin chủ trương phê duyệt xây dựng dự án khu dân cư Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai với tổng diện tích là 157 ha (bao gồm 101.700 m2 đất của Tình và Sương). Ông Tài nhất trí và đã liên hệ với các cơ quan chức năng liên quan của tỉnh Đồng Nai để cho Công ty Sài Gòn Cây Cảnh lập thủ tục đầu tư dự án khu dân cư Tam Phước. 

Từ năm 2007 đến năm 2009, Dự án khu dân cư Tam Phước được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt các thủ tục pháp lý như sau:

Ngày 26/7/2007, UBND tỉnh Đồng Nai có Văn bản số 5762/UBND-CNN chấp thuận địa điểm cho Công ty Sài Gòn Cây Cảnh lập thủ tục đầu tư dự án Khu dân cư tại xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai với diện tích 157ha. Ngày 19/10/2007, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 3561/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu dân cư Tam Phước trong đó có nội dung: 

“ ...a) Công ty Sài Gòn Cây Cảnh lập thủ tục đầu tư, thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư;

b) Liên hệ UBND huyện Long Thành và Sở Tài nguyên Môi trường để làm thủ tục đất đai, thủ tục bảo vệ môi trường theo quy định;

c) Liên hệ Sở Xây dựng và các ngành liên quan lập quy hoạch chi tiết 1/500 và thủ tục xây dựng;

d) Chủ đầu tư chỉ được phép sử dụng đất xây dựng công trình và triển khai dự án khi đã hoàn thành thủ tục đầu tư, thủ tục đất đai, quy hoạch, xây dựng, và thủ tục khác liên quan theo quy định pháp luật;

e) Thực hiện các nghĩa vụ tài chính về đầu tư khu dân cư...” Ngày 26/12/2007, UBND tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 4621/QĐ-UBT phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu dân cư Tam Phước cho Công ty Sài Gòn Cây Cảnh.Ngày 28/11/2008, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 4027/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu dân cư Tam Phước, quy mô 157,23ha...; trong đó đất dân dụng 145,03ha: 

1) Đất nhà ở gồm nhà chung cư, biệt thự đơn lập, nhà vườn, biệt thự song lập, nhà phố thương mại, nhà liên kế vườn tổng 62.61ha; 

2) Đất công trình dịch vụ đô thị (18,52ha); đất ngoài dân dụng (giao thông) 12.20ha. Phân kỳ đầu tư xây dựng: 

  • Giai đoạn 1 (từ 2008 đến 2010): Cắm mốc khoanh vùng dự án, chuẩn bị đầu tư giải phóng mặt bằng và đền bù đất đai toàn bộ diện tích dự án và đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật khu ở số 1, diện tích 43ha; 
  • giai đoạn 2 (từ 2011 đến 2013): Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng xã hội và kỹ thuật khu số 2, 3 diện tích 43.5ha; 
  • giai đoạn 3 ( từ 2014-2015): Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng xã hội và kỹ thuật khu 4 diện tích 46.9ha; giai đoạn 4 (từ 2016-2020): Xây dựng cao ốc văn phòng, chung cư cao tầng, diện tích 11.58ha.

Ngày 12/3/2009, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai ban hành các Quyết định số 626, 627/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu dân cư Tam Phước.

Ngày 05/5/2009, Hội đồng bồi thường UBND huyện Long Thành có Công văn số 434 gửi Công ty Sài Gòn Cây Cảnh đề nghị cắm mốc, vạch sơn giải phóng mặt bằng. Mặc dù dự án khu dân cư Tam Phước chưa được UBND tỉnh Đồng Nai ra quyết định giao đất và cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép xây dựng; công ty Sài Gòn Cây Cảnh chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đền bù, giải tỏa trên diện tích đất dự án được giới thiệu là 157ha; chưa có đủ điều kiện pháp lý theo quy định của Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở, để phân lô bán nền  không được phép huy động vốn. Nhưng, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương cùng các đồng phạm Đặng Đức Trung, Đặng Trọng Nhân, Đinh Quốc Lực, Võ Hoàng Yến và Trần Đức Phương đã dùng hồ sơ, thủ tục pháp lý dự án đã có, lợi dụng tư cách pháp nhân Công ty Sài Gòn Cây Cảnh, dùng thủ đoạn tổ chức hội thảo tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai có người nước ngoài tham gia, đưa ra các thông tin quảng cáo, tiếp thị không đúng sự thật như: Dự án Khu dân cư Tam Phước với mô hình công nghệ mới, mang tính đột phá lần đầu tiên ở Việt Nam với sự hợp tác của Tập đoàn tài chính quốc tế E.VO Global, tự thiết kế, sắp xếp mẫu nhà dự án theo mô hình 3D, lợi thế nằm cạnh sân bay quốc tế Long Thành, Cảng Cái Mép, tuyến xe lửa Biên Hoà - Vũng Tàu, Trạm xe buýt, môi trường thân thiện nên những người bị hại đã tin tưởng cho Tình và Sương vay tiền và thông qua các Công ty bất động sản Hoàng LinhCông ty xây dựng - bất động sản Nam Tiến đã ký “Hợp đồng góp vốn”, thực chất là phân lô, bán đất nền dự án khu dân cư Tam Phước. 

Từ năm 2006 đến 2010 Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương và đồng phạm đã dùng thủ đoạn ký hợp đồng vay tiền, đặt cọc; ký hợp đồng mua đất nền dự án rồi chiếm đoạt của 405 người bị hại tổng số 323.689.730.000 đồng, cụ thể như sau:

1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt 30.260.000.000 đồng của ông Lê Đình Tài, bà Trần Thị Hải Yến. Từ ngày 27/11/2006 đến ngày 09/8/2010, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương đã 08 lần thế chấp quyền sử dụng 05 thửa đất nêu trên tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh để vay tiền và đảm bảo cho người khác đứng tên vay hộ tổng số tiền 36.050.000.000 đồng. Cụ thể: 

    • Ngày 27/11/2006 thế chấp thửa đất số 237 vay 3 tỷ đồng, tất toán ngày 09/3/2007;
    • Ngày 18/4/2007, thế chấp thửa đất số 237 vay 3 tỷ đồng, tất toán ngày 27/12/2008;
    • Ngày 19/5/2007, thế chấp thửa đất số 236 để bảo đảm cho Lê Kim Loan vay 3 tỷ đồng, tất toán ngày 31/7/2008; 
    • Ngày 25/7/2007, thế chấp thửa đất số 180, 707 vay 3 tỷ đồng, tất toán ngày 31/7/2008; 
    • Ngày 31/7/2008, thế chấp thửa đất số 180, 707, 236 vay 5,9 tỷ đồng, tất toán ngày 30/11/2009.
  • Do Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương có nợ xấu tại Ngân hàng vì không trả nợ gốc và lãi nên không được đứng tên vay, ngày 03/4/2009 Tình, Sương đã bảo lãnh cho bà Nguyễn Thị Điệp thế chấp 02 thửa đất 286, 237 để vay 5,5 tỷ đồng (Điệp vay giúp Sương), tất toán ngày 5/8/2010. 
  • Ngày 30/11/2009, Tình và Sương ký hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ 03 số 1601-LCP- 200900257 thế chấp 03 thửa đất (số 180 diện tích 26.546 m2, thửa đất 707 diện tích 20.058 m2 và thửa đất số 236 diện tích 19.414 m2) để bảo lãnh cho Lư Văn Kiện Anh đứng tên vay 06 tỷ đồng, thời hạn vay 12 tháng (Kiện Anh vay giúp Tình, Sương). 
  • Ngày 09/8/2010, Tình và Sương đã thế chấp thửa đất số 286 và thửa đất số 237 vay 6.650.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng. (Khoản vay Ngân hàng ngày 30/11/2009 và 9/8/2010, Tình và Sương chưa trả được Ngân hàng. Quá trình điều tra, ông Trần Đức Thuận (trú tại số 356 Cao Thắng, Phường 12, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh, là người đại diện do Tình và Sương ủy quyền tham gia tố tụng liên quan đến Công ty Sài Gòn Cây Cảnh) đã trả tiền nợ gốc cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Quận 1, TP. Hồ Chí Minh thay Tình và Sương: ngày 29/9/2017 trả 6.650.000.000 đồng, ngày 09/10/2017 trả 6.000.000.000 đồng. Đối với khoản lãi trong hạn và lãi quá hạn đã được Ngân hàng xét miễn).
  • Mặc dù đã thế chấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng 05 thửa đất trên tại Ngân hàng. Nhưng Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương vẫn sử dụng thế chấp cho vợ chồng ông Lê Đình Tài, bà Trần Thị Hải Yến vay tiền. Từ ngày 18/11/2007 đến ngày 02/08/2009 Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương đã lấy lý do vay trả tiền mua đất và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dự án Khu dân cư thuộc xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai để ký giấy và xác nhận đã vay của bà Trần Thị Hải Yến tổng số tiền là 30.260.000.000 đồng. Trong đó, ngày 18/11/2007 vay 8.000.000.000đ, thỏa thuận lãi suất 03 %/tháng, trả lãi hàng tháng, thời hạn vay đến ngày 31/12/2008; ngày 02/01/2009, vay số tiền 13.560.000.000đ, thoả thuận lãi suất 03%/ tháng, trả lãi hàng tháng, thời hạn vay đến ngày 31/12/2009; ngày 02/08/2009 đã vay số tiền 8.700.000.000 đ, thoả thuận lãi suất 04%/ tháng, trả lãi hàng tháng, thời hạn vay đến ngày 31/12/2009. Sau khi nhận được số tiền 30.260.000.000 đồng nêu trên, Tình và Sương đã chiếm đoạt không trả lại cho vợ chồng ông Tài, bà Yến. Ngoài số tiền nêu trên, từ ngày 22/01/2008 đến ngày 26/3/2008, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương còn vay ông Lê Đình Tài và bà Trần Thị Hải Yến 40.150.394.277 đồng. Trong đó, ngày 05/02/2008 vay 20.000.000.000 đồng, ngày 16/3/2008 vay 2.500.000.000 đồng (Tình, Sương đã viết 2 giấy xác nhận vay tiền, không có tài sản thế chấp); ngày 19/02/2008 vay 9.004.500.000 đồng (nhờ anh Nguyễn Hữu Thành nhận hộ tại Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long chi nhánh Đồng Nai); Ngày 26/02/2008 vay 5.000.000.000 đồng, ngày 10/3/2008 vay 2.500.000.000 đồng, ngày 26/3/2008 vay 1.000.000.000 đồng (ông Lê Đình Tài chuyển cho vợ chồng Tình, Sương qua các tài khoản số 001324938001 và số 0013243800 của Công ty Sài Gòn Cây Cảnh tại Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải tại Thành phố Hồ Chí Minh); ngày 22/01/2008 vay 226.394.277 đồng (ông Tài nộp hộ cho vợ chồng Tình, Sương tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai để thanh lý hợp đồng đo vẽ dự án khu dân cư Tam Phước). Tại Cơ quan điều tra Tình và Sương khai lý do đã ký 05 giấy xác nhận vay tổng số tiền 52.760.000.000 đồng nêu trên (có 3 giấy thế chấp tài sản, 2 giấy không có thế chấp tài sản) là do Tình và Sương đã nhờ ông Tài làm các thủ tục pháp lý dự án Khu dân cư Tam Phước, nên đã bị ông Tài ép ký khống 05 giấy ghi nợ này tại Văn phòng Công ty Sài Gòn Cây Cảnh ở địa chỉ số 244, Nguyễn Văn Hưởng, phường Thảo Điền, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc ký nhận giấy vay tiền có các ông Phan Văn Tòng Anh, Nguyễn Tấn Thành, Lư Văn Kiện Em, Lý Văn Tây, Trần Văn Trang, Hoàng Quốc Võ, bà Võ Hoàng Hà, Lê Anh Ngọc Dung...biết. Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai những người nêu trên. Nhưng họ đều khai không biết sự việc vợ chồng ông Tài, bà Yến đã ép buộc vợ chồng Tình, Sương phải ký khống các giấy vay tiền trên như lời khai của vợ chồng Tình, Sương.
  • Tại Kết luận giám định số 4637/KL-KTHS ngày 31/8/2022 của Phân viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận chữ viết, chữ ký tại mục “Người vay tiền, người vay vốn” trên 05 mẫu ghi nợ gửi giám định là do Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương viết, ký ra. Căn cứ các chứng cứ nêu trên có sơ sở chứng minh Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương đã dùng thủ đoạn thế chấp quyền sử dụng 05 thửa đất đang được thế chấp tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Quận 1, TP. Hồ Chí Minh vay vợ chồng ông Lê Đình Tài và bà Trần Thị Hải Yến 30.260.000.000 đồng, rồi chiếm đoạt. Đối với số tiền 40.150.394.277 đồng nên trên là quan hệ vay mượn trong giao dịch dân sự giữa ông Lê Đình Tài, bà Trần Thị Hải Yến với Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương nên không để cập xử lý trong vụ án này.

2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt 293.429.730.000 đồng của 404 người bịbhại thông qua việc ký hợp đồng bán 948 nền đất dự án khu dân cư Tam Phước.

Từ tháng 12 năm 2006 đến năm 2010, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương đã lợi dụng hồ sơ, thủ tục pháp lý đã có của dự án khu dân cư Tam Phước và pháp nhân Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh để trực tiếp ký “Hợp đồng góp vốn”, hoặc cùng các đồng phạm là Đặng Đức Trung, Đặng Trọng Nhân, Đinh Quốc Lực, Võ Hoàng Yến và Trần Đức Phương thông qua các Công ty cổ phần đầu tư bất động sản Hoàng Linh và Công ty dịch vụ đầu tư bất động sản Nam Tiến, ký 868 hợp đồng, thỏa thuận đặt cọc (trong đó có 824 hợp đồng có số lô, nền; hợp đồng chưa có nền và 5 thỏa thuận đặt cọc) bán 948 nền đất cho 404 người, chiếm đoạt 293.429.730.000 đồng, cụ thể như sau:

Thứ nhất: Hành vi lợi dụng pháp nhân Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh ký 452 hợp đồng bán 576 nền đất khống của dự án khu dân cư Tam Phước cho 97 người bị hại chiếm đoạt 201.937.640.000 đồng: Từ tháng 12/2006 đến tháng 12/2010, Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương đã lợi dụng pháp nhân Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh, trực tiếp ký 452 “Hợp đồng góp vốn”, thực chất là hợp đồng mua bán đất nền dự án để bán 576 nền đất dự án khu dân cư Tam Phước cho 97 người bị hại, cụ thể: STT Họ Tên khách hàng Tổng số tiền bị chiếm đoạt

  • 1 Nguyễn Kim Phụng 211.200.000
  • 2 Võ Thị Ngọc Bích 21.660.000.000
  • 3 Đặng Thị Thu Hồng 4.230.000.000
  • 4 Nguyễn Đình Chiểu 1.188.000.000
  • 5 Trần Văn Hóa 1.350.000.000
  • 6 Ngô Tiến Dũng 714.000.000
  • 7 Trần Văn Tính 1.677.000.000
  • 8 Lư Thị Cẩm Điều 276.000.000
  • 9 Lư Văn Biên 288.000.000
  • 10 Nguyễn Thị Điệp 32.361.120.000
  • 11 Lê Thanh Huy 2.154.570.000
  • 12 Lê Hồng Nhung 792.000.000
  • 13 Nguyễn Thị Thu Nguyệt 397.500.000
  • 14 Lê Hoàng Chi 798.000.000
  • 15 Hồ Thị Hải 165.000.000
  • 16 Nguyễn Thị Kiều Oanh 852.000.000
  • 17 Lê Kim Thiện 1.247.400.000
  • 18 Lê Hoàng Oanh 1.386.000.000
  • 19 Trần Thị Minh Tuyết 1.200.000.000
  • 20 Nguyễn Tiến Huy 991.500.000
  • 21 Đặng Văn Nghiêm 180.000.000
  • 22 Nguyễn Nam Mỹ Dung 552.000.000
  • 23 Bùi Thị Lang 552.000.000
  • 24 Ngô Bích Hằng 600.000.000
  • 25 Lê Thùy Linh 1.200.000.000
  • 26 Ngô Thị Thúy Nga 208.000.000
  • 27 Phạm Ngọc Thạch 1.610.000.000
  • 28 Trần Ngọc Huệ 422.400.000
  • 29 Đỗ Thị Nga 450.000.000
  • 30 Đỗ Mạnh Hùng 275.000.000
  • 31 Đinh Thị Lan 291.000.000
  • 32 Lê Thị Xuân Cầm 812.098.000
  • 33 Trần Văn Sơn 845.420.000
  • 34 Phạm Thúy Bình 400.000.000
  • 35 Nguyễn Thị Kim Dung 360.000.000
  • 36 Nguyễn Kim Trĩ 5.395.500.000
  • 37 Lê Thị Kim 7.697.000.000
  • 38 Nguyễn Văn Tiết 1.500.000.000
  • 39 Lê Thị Ba 1.500.000.000
  • 40 Hoàng Huy Ngôn 618.750.000
  • 41 Nguyễn Thị Kim Yến 600.000.000
  • 42 Lê Thị Kim Dung 8.400.000.000
  • 43 Đinh Thị Huệ 172.000.000
  • 44 Trương Thành Vinh 172.000.000
  • 45 Võ Tấn Đạt 1.800.000.000
  • 46 Phạm Thị Mỹ Linh 250.000.000
  • 47 Dương Quốc Khang 11.118.840.000
  • 48 Nguyễn Thị Việt An 2.537.380.000
  • 49 Nguyễn Trường Sơn 2.700.000.000
  • 50 Trần Chu Toàn 300.000.000
  • 51 Vũ Duy Quyền 110.000.000
  • 52 Nguyễn Thị Thắm 552.000.000
  • 53 Trần Thị Tường Loan 714.000.000
  • 54 Phan Thị Dễ 7.470.000.000
  • 55 Nguyễn Thị Kim Phượng 879.000.000
  • 56 Nguyễn Xuân Hùng 768.000.000
  • 57 Nguyễn Thị Thu Thảo 2.776.950.000
  • 58 Hoàng Minh Thông 156.000.000
  • 59 Phan Nhựt Trường 1.200.000.000
  • 60 Đàm Văn Viên 1.000.000.000
  • 61 Nguyễn Văn Quý 2.306.610.000
  • 62 Nguyễn Văn Cận 2.589.000.000
  • 63 Cao Đắc Đạo 442.750.000
  • 64 Nguyễn Thị Thu Hà 2.207.700.000
  • 65 Phan Nam 176.000.000
  • 66 Huỳnh Thanh Duy 750.000.000
  • 67 Tăng Bá Phúc 105.600.000
  • 68 Đặng Thị Minh Lý 136.950.000
  • 69 Nguyễn Tấn Thành 200.000.000
  • 70 Nguyễn Quang Duy 675.000.000
  • 71 Vũ Đại Bàng 3.024.000.000
  • 72 Đinh Văn Thiện 163.000.000
  • 73 Nguyễn Thị Mai 2.340.000.000
  • 74 Bùi Đức Cảnh 600.000.000
  • 75 Tô Bình Trọng 1.546.137.000
  • 76 Lư Văn Kiện Anh 2.750.000.000
  • 77 Võ Thị Mai 288.000.000
  • 78 Đỗ Đông Hồ 609.000.000
  • 79 Võ Thanh Tùng 120.000.000
  • 80 Đỗ Thành Tấn 300.000.000
  • 81 Nguyễn Vĩnh Trà 152.000.000
  • 82 Lê Thị Ngọc Bích 1.000.000.000
  • 83 Trần Diệu Bình 1.000.000.000
  • 84 Nguyễn Đình Đát 400.000.000
  • 85 Nguyễn Phúc Thái 400.000.000
  • 86 Trần Lê Vân 200.000.000
  • 87 Từ Nhã Châu 600.000.000
  • 88 Nguyễn Khắc Trung 506.220.000
  • 89 Hà Thị Phương Trình 197.125.000
  • 90 Phạm Văn Dũng 152.000.000
  • 91 Lê Cẩm Anh 200.000.000
  • 92 Nguyễn Thị Thủy Tiên 26.389.970.000
  • 93 Võ Thế Hào 739.200.000
  • 94 Nguyễn Thị Tuyết Nhung 500.500.000
  • 95 Hà Lệ Phương 1.120.250.000
  • 96 Bùi Thị Thúy Loan 2.968.750.000
  • 97 Nguyễn Thành Chung 997.250.000

Tổng số tiền chiếm đoạt là 201.937.640.000 đồng. Trong đó, Nguyễn Văn Tình đã trực tiếp ký 373 hợp đồng, 541 phiếu thu tiền của khách hàng, nhận 177.007.286.000 đồng; Nguyễn Thị Chí Sương trực tiếp ký 70 hợp đồng, 75 phiếu thu tiền của khách hàng, nhận 23.967.354.000 đồng; Đặng Đức Trung ký 7 hợp đồng, 7 phiếu thu tiền của khách hàng, nhận 963.000.000 đồng.

Thứ hai: Hành vi lợi dụng pháp nhân Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh và Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển bất động sản Hoàng Linh ký 276 hợp đồng bán 232 nền đất dự án khu dân cư Tam Phước cho 198 người bị hại, chiếm đoạt tổng số 57.537.030.000 đồng của Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương, Đinh Quốc Lực và Võ Hoàng Yến:

  • Tháng 02/2008, biết Nguyễn Văn Tình có ý định phân lô bán nền dự án khu dân cư Tam Phước, Đinh Quốc Lực là nhân viên Công ty cổ phần đầu tư và phát triển bất động sản Hoàng Linh (do ông Phan Trung Kỳ làm Giám đốc) đã liên hệ và được Tình cung cấp các văn bản do UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt gồm: Quyết định số 5762/UBND chấp thuận địa điểm; Quyết định số 3561/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu dân cư Tam Phước; Quyết định số 4621/QĐ-UBT phê duyệt phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ tái định cư và Bản sơ đồ phân lô theo quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 do Tình tự thuê đơn vị làm dịch vụ lập, 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 10,2 ha do Tình và Sương đứng tên quyền sử dụng tại Khu dân cư Tam Phước (bản photocoppy). Đinh Quốc Lực đã bàn bạc với Võ Hoàng Yến - Trưởng Văn phòng đại diện Công ty Hoàng Linh đặt tại 688, Sư Vạn Hạnh, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về việc ký hợp đồng môi giới độc quyền dự án khu dân cư Tam Phước với Công ty Sài Gòn Cây Cảnh; Yến đồng ý cùng Lực đến Công ty Sài Gòn Cây Cảnh gặp Tình thỏa thuận sẽ phân phối 350 nền đất tại dự án, thống nhất huy động góp vốn mỗi nền là 100 triệu đồng.
  • Mặc dù không được ông Kỳ Giám đốc Công ty Hoàng Linh ủy quyền nhưng ngày 20/02/2008, Đinh Quốc Lực đã tự ý lấy tư cách Giám đốc Công ty Hoàng Linh (Bên B) ký “Hợp đồng đại lý phân phối độc quyền dự án Khu dân cư Tam Phước” số 01/HĐĐL và các phụ lục Hợp đồng số 01, 02/PLHĐ với Nguyễn Văn Tình, Tổng Giám đốc Công ty Sài Gòn Cây Cảnh (Bên A), theo thoả thuận Bên A giao cho Bên B phân phối độc quyền toàn bộ các lô đất nền thổ cư với tổng diện tích là 87.500 m2 của 350 lô đất (mỗi lô 250 m2 - giá 2.200.000 đ/1m2) trong dự án khu dân cư Tam Phước, Bên B được hưởng 200.000đ/m2 tiền môi giới và phải đặt cọc đảm bảo trước cho Bên A số tiền 3.000.000.000đ (Ba tỷ đồng). Đinh Quốc Lực đã thiết kế tờ rơi quảng cáo dự án khu dân cư Tam Phước, Lực tự thiết kế, sắp xếp theo mô hình 3D và mẫu nhà do Công ty Sài Gòn Cây Cảnh cung cấp, tự đưa hình ảnh Sân bay quốc tế Long Thành, Cảng Cái Mép, tuyến xe lửa Biên Hoà - Vũng Tàu, trạm xe buýt bắt mắt để chiêu dụ khách hàng. Ngay tối ngày 20 tháng 02 năm 2008, Lực và Yến đã viết phiếu thu tiền danh nghĩa Công ty Hoàng Linh nhận của 172 khách hàng số tiền là 35 tỷ đồng đặt cọc mua 350 nền đất. Ngày 21 và 22/02/2008, Lực đã chuyển cho Tình 35 tỷ đồng tiền khách hàng đặt cọc nói trên theo 02 phiếu thu số 01 và 02/PT của Công ty Sài Gòn Cây Cảnh do Tình ký nhận.
  • Tháng 6/2008, một số khách hàng phát hiện dự án khu dân cư Tam Phước chưa có Quyết định phê duyệt chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 nên đã yêu cầu Công ty Hoàng Linh trả lại tiền. Ngày 02/7/2008, Hội đồng quản trị Công ty Hoàng Linh họp, yêu cầu Đinh Quốc Lực báo cáo việc tự ý ký hợp đồng với Công ty Sài Gòn Cây Cảnh về phân phối đất nền dự án khu dân cư Tam Phước, đã yêu cầu Lực liên hệ với chủ đầu tư để lấy lại tiền trả cho khách hàng. Nhưng, sau đó Lực và Yến vẫn tiếp tục thu tiền của khách hàng để chuyển cho Công ty Sài Gòn Cây Cảnh theo “Hợp đồng góp vốn” đã ký.
  • Ngày 06/8/2008, Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai chủ trì tổ chức cuộc họp với Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai, UBND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và Công ty Sài Gòn Cây Cảnh do Nguyễn Văn Tình đại diện đã kết luận: “...Việc Công ty Sài Gòn Cây Cảnh rao bán nền trong khi dự án chưa triển khai, đang trong giai đoạn phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 mà Công ty đã huy động vốn bằng cách rao bán nền đất trong diện tích 20ha (đã bồi thường) là không đúng theo quy định tại Nghị định 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 của Chính phủ. Do đó đề nghị Công ty Sài Gòn Cây Cảnh ngưng ngay các thỏa thuận góp vốn đầu tư dự án khu dân cư Tam Phước cho đến khi được UBND tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đầu tư và đáp ứng các điều kiện quy định tại Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Nhà ở...”.
  • Ngày 14/9/2009 Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai chủ trì cuộc họp với Sở Xây dựng, UBND huyện Long Thành và Công ty Sài Gòn Cây Cảnh về việc Công ty Hoàng Linh rao bán đất nền dự án khi dự án đang trong giai đoạn hoàn thành thủ tục là không đúng. UBND huyện Long Thành đã yêu cầu Công ty Cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh giải trình năng lực tài chính; Sở Xây dựng yêu cầu Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh ngưng ngay việc thực hiện thỏa thuận góp vốn cho đến khi dự án hoàn thành thủ tục đầu tư và ngưng ngay việc san nền, xây dựng khi chưa làm xong thủ tục đầu tư “... Đề nghị Công ty Cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh khẩn trương khắc phục, ngưng ngay các thỏa thuận góp vốn đầu tư dự án Khu dân cư Tam Phước cho đến khi dự án hoàn thành các thủ tục đầu tư theo quy định...”
  • Ngày 02/10/2009, UBND tỉnh Đồng Nai đã có Công văn số 8021/UBND-CNN gửi các Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài Nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Sở Tài chính tỉnh Đồng Nai, UBND huyện Long Thành và Tổng Giám đốc Công ty Sài Gòn Cây Cảnh yêu cầu “ ...Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh có trách nhiệm giải trình năng lực đầu tư dự án Khu dân cư Tam Phước.... không được huy động vốn ứng trước, rao bán nền đất dự án khi chưa đủ điều kiện theo quy định của pháp luật liên quan. Trường hợp doanh nghiệp huy động vốn ứng trước, rao bán nền khi chưa đủ điều kiện theo quy định, UBND tỉnh Đồng Nai sẽ xem xét thu hồi văn bản thỏa thuận địa điểm đầu tư... ”
  • Mặc dù các cấp chính quyền yêu cầu không được huy động vốn ứng trước, rao bán nền đất dự án khi chưa đủ điều kiện. Nhưng, Tình và Sương vẫn cùng các đồng phạm vẫn tiếp tục dùng các thủ đoạn nêu trên để thu tiền của các bị hại để chiếm đoạt. Từ ngày 20/02/2008 đến ngày 07/10/2010, Lực và Yến chuyển cho vợ chồng Tình, Sương 59.960.000.000đ (Năm mươi chín tỷ, chín trăm sáu mươi triệu đồng), trong đó, Tình ký nhận 72 phiếu chi tổng số tiền 52.360.000.000đ (Năm mươi hai tỷ, ba trăm sáu mươi triệu đồng), Sương ký nhận 51 phiếu chi tổng số tiền 7.600.000.000đ (Bảy tỷ sáu trăm triệu đồng).

Kết quả điều tra đã xác định Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương, Đinh Quốc Lực và Võ Hoàng Yến đã ký 276 hợp đồng, bán 232 nền đất dự án khu dân cư Tam Phước cho 198 người bị hại, cụ thể:

STT Họ Tên khách hàng Tổng số tiền bị chiếm đoạt

  • 1 Nguyễn Ngọc Lân 211.200.000
  • 2 Bồ Thị Bích Ngọc 211.200.000
  • 3 Huỳnh Tuyết Nga 281.600.000
  • 4 Lê Thiện Hoàng 110.000.000
  • 5 Trương Mỹ Liên 211.200.000
  • 6 Lăng Thị Hồng 211.000.000
  • 7 Phùng Thị Kim Thanh 211.000.000
  • 8 Hoàng Huỳnh Sơn 186.340.000
  • 9 Nguyễn Minh Quốc Hùng 211.200.000
  • 10 Nguyễn Thanh Bình 504.020.000
  • 11 Nguyễn Văn Hiệp 281.600.000
  • 12 Huỳnh Thị Minh Tâm 240.240.000
  • 13 Huỳnh Kim Hoàng 211.200.000
  • 14 Hoàng Minh Tuy 281.600.000
  • 15 Trần Phương Ngọc 211.200.000
  • 16 Nguyễn Tấn Tranh 211.200.000
  • 17 Nguyễn Thị Thu Uyển 110.000.000
  • 18 Trần Hữu Phúc 110.000.000
  • 19 Bùi Thị Hoàng Yến 979.000.000
  • 20 Đoàn Kim Mầu 211.200.000
  • 21 Võ Thị Thắng 177.540.000
  • 22 Phạm Anh Tuấn 396.000.000
  • 23 Đỗ Đức Toàn 199.320.000
  • 24 Nguyễn Thị Thủy 1.058.200.000
  • 25 Nguyễn Văn Tiếp 353.100.000
  • 26 Nguyễn Yên Tĩnh 422.400.000
  • 27 Bùi Trần Minh Triết và Hoàng Thị Hiền 281.300.000
  • 28 Nguyễn Thanh Long 187.440.000
  • 29 Vũ Thanh Hải 330.000.000
  • 30 Trần Quang Lộc 330.000.000
  • 31 Lê Thị Hồng 241.560.000
  • 32 Nguyễn Kiều Diễm 211.200.000
  • 33 Tôn Nữ Mỹ Phương 281.600.000
  • 34 Nghiêm Thị Mai Trâm 211.200.000
  • 35 Châu Quang 110.000.000
  • 36 Trần Thu Cơ 110.000.000
  • 37 Lê Thị Nga 211.200.000
  • 38 Bùi Tuấn Anh 249.920.000
  • 39 Lê Đức Thu 426.360.000
  • 40 Trần Thị Phước Châu 211.200.000
  • 41 Phùng Thị Lan 211.200.000
  • 42 Vũ Thị Sự 415.140.000
  • 43 Đỗ Thị Thanh Vân 211.200.000
  • 44 Nguyễn Văn Thu 275.200.000
  • 45 Nguyễn Thị Thúy Vân 281.600.000
  • 46 Nguyễn Thị Nhị 281.600.000
  • 47 Nguyễn Thị Ngọc Duyên 281.600.000
  • 48 Nguyễn Ngọc Thăng 221.760.000
  • 49 Mạc Văn Vĩ 503.360.000
  • 50 Phan Xuân Nam 256.960.000
  • 51 Phạm Thị Vuốt 110.000.000
  • 52 Nguyễn Quang Huế 430.320.000
  • 53 Lê Đức Thành 110.000.000
  • 54 Trần Đức Diệm 110.000.000
  • 55 Nguyễn Thanh Vũ 110.000.000
  • 56 Nguyễn Thị Thanh Bình 281.600.000
  • 57 Nguyễn Đình Hòa 110.000.000
  • 58 Ngô Thị Kiều 293.380.000
  • 59 Phương Kim Hoàn 211.200.000
  • 60 Vũ Văn Thân 281.600.000
  • 61 Nguyễn Văn Thọ 1.092.960.000
  • 62 Nguyễn Thị Bích Thủy 281.600.000
  • 63 Trần Thị Hường 330.000.000
  • 64 Phạm Thị Kim Bằng 110.000.000
  • 65 Ngô Thị Thu Ba 211.200.000
  • 66 Nguyễn Đình Luyến 110.000.000
  • 67 Lương Thị Hoàng Thảo 211.200.000
  • 68 Lương Thị Hồng Xuân 439.560.000
  • 69 Lê Xuân Giao 633.600.000
  • 70 Nguyễn Quốc Đạt 223.300.000
  • 71 Huỳnh Tăng Đơn 563.200.000
  • 72 Hoàng Thị Cương 110.000.000
  • 73 Nguyễn Thị Hà 220.000.000
  • 74 Nguyễn Anh Tú 380.160.000
  • 75 Nguyễn Thị Vân 211.200.000
  • 76 Nguyễn Hữu Lộc 281.600.000
  • 77 Nguyễn Văn Thìn 422.400.000
  • 78 Trương Ngọc Thảo 110.000.000
  • 79 Lưu Thanh Châu 281.600.000
  • 80 Phù Chí Dương 281.600.000
  • 81 Phạm Hồng Sơn 310.000.000
  • 82 Huỳnh Vũ Minh 198.000.000
  • 83 Lê Trọng Biện 225.720.000
  • 84 Ngô Hùng 436.920.000
  • 85 Hoàng Tiến Phóng 211.200.000
  • 86 Hoàng Tiến Lưu 194.040.000
  • 87 Bùi Sông Lam 220.000.000
  • 88 Du Đức Lợi 281.600.000
  • 89 Trần Ngọc Mai 388.080.000
  • 90 Đàm Thiên Nga 211.200.000
  • 91 Hứa Vĩnh Bá 220.000.000
  • 92 Hứa Vĩnh Thụ 110.000.000
  • 93 Hứa Thị Yến 243.100.000
  • 94 Hứa Thị Phi Oanh 356.840.000
  • 95 Nguyễn Thanh Phong 211.200.000
  • 96 Nguyễn Minh Luân 369.600.000
  • 97 Bùi Phú Bình 281.600.000
  • 98 Nguyễn Thị Tuyết Hà 110.000.000
  • 99 Trịnh An Lợi 1.275.670.000
  • 100 Dương Thị Hải Oanh 302.160.000
  • 101 Nguyễn Thanh Hương 422.400.000
  • 102 Võ Bạch Nga 211.200.000
  • 103 Lê Thị Bình Minh 211.200.000
  • 104 Cám Phúc 523.600.000
  • 105 Nguyễn Thị Thanh Khương 728.420.000
  • 106 Hoàng Kim Bắc 249.920.000
  • 107 Lê Thanh Hương 281.600.000
  • 108 Dương Trọng Vang 110.000.000
  • 109 Nguyễn Thanh An 330.000.000
  • 110 Phan Đình Thư 110.000.000
  • 111 Tô Thị Thu Ba 422.400.000
  • 112 Dương Quới 100.000.000
  • 113 Nguyễn Văn Ngọc 562.680.000
  • 114 Trần Công Danh 185.460.000
  • 115 Trương Thủy Nguyên 767.580.000
  • 116 Lưu Văn Huy 372.900.000
  • 117 Nguyễn Quang Sáu 211.200.000
  • 118 Mai Thị Mai 425.700.000
  • 119 Nguyễn Ngọc Hải Triều 110.000.000
  • 120 Nguyễn Thị Xuân 346.500.000
  • 121 Dương Trí Hùng 214.500.000
  • 122 Phạm Thành Phước 186.750.000
  • 123 Trần Quỳnh Nga 405.240.000
  • 124 Lý Tuấn Anh 197.120.000
  • 125 Nguyễn Đức Hòa 760.170.000
  • 126 Phạm Bá Kim Long 316.800.000
  • 127 Nguyễn Công Bằng 180.780.000
  • 128 Trang Đệ 197.890.000
  • 129 Nguyễn Thị Thúy Nga 213.840.000
  • 130 Lâm Ái Vân 404.690.000
  • 131 Trần Thị Vinh 292.160.000
  • 132 Nguyễn Thị Chung 563.200.000
  • 133 Hoàng Trọng Nguyên 211.200.000
  • 134 Nguyễn Thị Thùy Trang 348.150.000
  • 135 Trần Thị Thanh Thúy 281.600.000
  • 136 Lê Nguyên Bình 281.600.000
  • 137 Trần Hữu Lộc 281.600.000
  • 138 Trần Cao Hiến 281.600.000
  • 139 Vũ Thị Thiểm 643.500.000
  • 140 Tống Minh Trung 211.200.000
  • 141 Nguyễn Thị Kim Loan 187.440.000
  • 142 Trần Thị Thu Nghĩa 211.200.000
  • 143 Nguyễn Thị Kim Lan 281.600.000
  • 144 Cao Văn Tiến 1.126.400.000
  • 145 Phạm Thị Thu Hà 211.200.000
  • 146 Võ Thị Ngọc Bích 208.000.000
  • 147 Nguyễn Văn Tiến 211.200.000
  • 148 Lâm Trí Lập 281.600.000
  • 149 Đào Thị Diễm Hằng 281.600.000
  • 150 Nguyễn Thị Thu 281.600.000
  • 151 Trần Thị Hương Hạnh 211.200.000
  • 152 Nguyễn Thế Vinh 211.200.000
  • 153 Dương Tú Thanh 281.600.000
  • 154 Nguyễn Thành Nam 352.000.000
  • 155 Đỗ Thị Hoàng Oanh 211.200.000
  • 156 Phùng Trung Dũng 563.200.000
  • 157 Đào Thị Hậu 198.000.000
  • 158 Trương Thị Vân Anh
  • 159 Trần Quang Vinh 188.760.000
  • 160 Phạm Thị Thu Hương 631.810.000
  • 161 Trềnh Hếnh Tường 406.560.000
  • 162 Trần Văn Trường 177.540.000
  • 163 Trần Nguyên Mi 211.200.000
  • 164 Hoàng Thị Thu 281.600.000
  • 165 Nguyễn Chí Khoa 422.400.000
  • 166 Trần Thị Thảo 704.000.000
  • 167 Đỗ Hữu Trung 211.200.000
  • 168 Lê Thị Huyền 110.000.000
  • 169 Nguyễn Ngọc Lan 110.000.000
  • 170 Nguyễn Thị Thanh Vân 185.460.000
  • 171 Trần Thái Như 422.400.000
  • 172 Trần Thị Cúc 211.200.000
  • 173 Trần Việt Hùng 281.300.000
  • 174 Nguyễn Ngọc Trâm 211.200.000
  • 175 Nguyễn Thị Kim Hoa 100.000.000
  • 176 Thái Đắc Anh Tuấn 220.000.000
  • 177 Nguyễn Thanh Bình 330.000.000
  • 178 Trần Việt Triều 220.000.000
  • 179 Lê Quốc Thành 110.000.000
  • 180 Nguyễn Viết Hoạt 110.000.000
  • 181 Trương Thị Thường 177.540.000
  • 182 Nguyễn Ngọc Trang
  • 183 Nguyễn Ngọc Hằng
  • 184 Nguyễn Văn Chín 321.200.000
  • 185 Trần Quyền 110.000.000
  • 186 Võ Trung Thắng 110.000.000
  • 187 Phương Cẩm Tú 220.000.000
  • 188 Nguyễn Văn Hòa 84.040.000
  • 189 Nguyễn Thị Bích Nhàn 563.200.000
  • 190 Lê Văn Thông 281.600.000
  • 191 Lê Tuấn Đông 0
  • 192 Trịnh Xuân Hinh 1.271.160.000
  • 193 Vũ Thị Vân Trang 211.200.000
  • 194 Nguyễn Thị Thái Hà 211.200.000
  • 195 Đỗ Thanh Hằng 110.000.000
  • 196 Nguyễn Văn Thức 281.600.000
  • 197 Trần Thị Minh Tuyết 211.200.000
  • 198 Nguyễn Thiệu Khang 204.500.000

Tổng số tiền chiếm đoạt là 57.537.030.000 đồng. Theo Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương khai khi Đinh Quốc Lực nộp tiền thu của khách hàng cho Tình và Sương, Lực đã trừ đi số tiền môi giới hoa hồng theo thoả thuận tại Hợp đồng số 01/HĐĐL ngày 20/02/2008, nhưng Lực khai chưa được nhận tiền môi giới hoa hồng trên. Còn Võ Hoàng Yến khai đã được nhận số tiền 1.384.920.000đ phí dịch vụ môi giới, Yến đã sử dụng để trả tiền lương, thưởng nhân viên, thuê mặt bằng trụ sở văn phòng Công ty ở 688 Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh. Nhưng căn cứ nội dung hợp đồng phân phối độc quyền dự án và các phụ lục hợp đồng mà Lực đã ký với Nguyễn Văn Tình, có cơ sở xác định số tiền hoa hồng Lực và Yến đã trích lại là 6.387.960.000 đồng.

Thứ ba: Hành vi ký “Hợp đồng góp vốn” bán 140 nền đất dự án Khu dân cư Tam Phước thông qua Công ty cổ phần Dịch vụ đầu tư xây dựng bất động sản Nam Tiến để chiếm đoạt 40.950.060.000 đồng của 111 bị hại của Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương, Đặng Đức Trung, Trần Đức Phương và Đặng Trọng Nhân. 

  • Ngày 11/11/2009, Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Sài Gòn Cây Cảnh, theo đó Đặng Đức Trung là Tổng Giám đốc Công ty, góp cổ phần 150 tỷ đồng, chiếm 30% vốn điều lệ. Đồng thời ngày 16/12/2009, Tình ký giấy ủy quyền số 02- 2009/GUQ-SGCC cho Đặng Trọng Nhân làm Phó Giám đốc dự án khu dân cư Tam Phước. 
  • Mặc dù biết rõ dự án Khu dân cư Tam Phước chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý, Công ty Sài Gòn Cây Cảnh đang bị các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai yêu cầu dừng ngay việc phân lô bán nền đất dự án, nhưng thông qua Phạm Trí Đức (sinh năm 1967, trú tại 163/19/9 Tô Hiến Thành, Phường 13, Quận 10, TP Hồ Chí Minh), ngày 07/12/2009, Đặng Đức Trung với tư cách là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sài Gòn Cây Cảnh (bên A) ký “Hợp đồng dịch vụ môi giới độc quyền” số 01/2009-HĐMG với Trần Đức Phương, là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Dịch vụ đầu tư xây dựng bất động sản Nam Tiến (bên B) - nội dung hợp đồng: Bên A đồng ý giao cho Bên B thực hiện dịch vụ môi giới bán các lô đất nền thuộc dự án khu đô thị Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (74 nền đất); giá bán các lô đất nền giai đoạn 1 là 2.200.000 đ/1m2, giai đoạn 2 là 2.400.000 đ/m2 ; bên B được hưởng 200.000 đ/1m2 phí dịch vụ môi giới và phải đặt cọc cho Bên A 500 triệu đồng để đảm bảo thực hiện hợp đồng, thời hạn hợp đồng là 03 tháng.
  • Cũng trong ngày 07/12/2009, Đặng Đức Trung và Trần Đức Phương còn ký “Hợp đồng dịch vụ” số 01/2009-HĐDV và ngày 07/3/2010 ký “Hợp đồng dịch vụ” số 02/2010- HĐDV và “Hợp đồng dịch vụ môi giới độc quyền số 02/2010-HĐMG, với thoả thuận, Phương kê giá đất lên thêm 200.000 đ/m2 so với giá gốc của chủ đầu tư và phụ thu của khách hàng loại phí theo vị trí của từng nền đất từ 20 triệu -120 triệu đồng/nền (gọi là hệ số đường, hệ số góc). Trần Đức Phương được hưởng 3% tổng giá trị hợp đồng góp vốn và 50% tiền “hệ số đường”, “hệ số góc”. Tiền phí dịch vụ môi giới 200.000đ/m2, sau khi trừ đi số tiền Phương được hưởng, còn lại Trung, Nhân và Đức được hưởng. Tiền chênh lệch kê lên 200.000đ/m2, Phương phải chuyển lại cho Trung, đồng thời Phương phải chuyển lại cho Trung, Nhân và Đức 50% tiền “hệ số đường”, “hệ số góc”. 
  • Ngày 29/12/2009 UBND tỉnh Đồng Nai có Công văn 10608 yêu cầu Giám đốc các Sở kế hoạch đầu tư, Tài nguyên môi trường, Xây dựng, Tài chính và UBND huyện Long Thành kiểm tra việc các Công ty Hoàng Linh, Nam Tiến quảng cáo bán nền dự án Khu dân cư Tam Phước. 
  • Ngày 30/12/2009, Đặng Đức Trung đại diện Công ty Sài Gòn Cây Cảnh ký văn bản số 23/CV-2009 gửi cho Trần Đức Phương đề nghị Công ty Nam Tiến ngưng việc quảng cáo dự án trên các phương tiện thông tin đại chúng, có nêu “Dự án Khu đô thị Tam Phước chỉ đang ở giai đoạn chuẩn bị công bố quy hoạch, chưa đủ pháp lý để phân phối sản phẩm”. Nhưng, Trần Đức Phương vẫn chỉ đạo Công ty Nam Tiến dùng thủ đoạn Maketing, quảng cáo dự án trên các phương tiện truyền thông (báo Tuổi trẻ, Tạp chí Thị trường giá cả), cho khách hàng xem sơ đồ và thực địa dự án khu dân cư Tam Phước và ký hợp đồng góp vốn với khách hàng theo phương thức khách hàng mua nền đất nộp tiền đặt cọc 30 triệu đồng/nền, sau 1 tuần, đến đóng tiền đợt 1 và ký hợp đồng góp vốn. Đặng Trọng Nhân đã trực tiếp đến Công ty Nam Tiến ký, nhận tiền về giao cho Tình, Sương, sau đó chuyển hợp đồng và phiếu thu của Công ty Sài Gòn Cây Cảnh cho Công ty Nam Tiến để trả cho khách hàng. Từ tháng 12/2009 đến tháng 10/2010 Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương, Đặng Đức Trung. Trần Đức Phương và Đặng Trọng Nhân đã ký 140 “Hợp đồng góp vốn” bán 140 nền đất dự án Khu dân cư Tam Phước cho 111 người bị hại, cụ thể:

STT Họ Tên khách hàng Tổng số tiền bị chiếm đoạt

  • 1 Nguyễn Thị Ngọc Bích 224.000.000
  • 2 Nguyễn Thị Ngọc Dung 179.200.000
  • 3 Thi Nguyễn Gia Luân 211.200.000
  • 4 Nguyễn Ngọc Huy 211.200.000
  • 5 Trần Thị Hồng 208.000.000
  • 6 Nguyễn Ngọc Tân 748.800.000
  • 7 Đỗ Quốc Dũng 291.200.000
  • 8 Nguyễn Huy Hoàng 324.480.000
  • 9 Trần Duy Vinh 208.000.000
  • 10 Vũ Mạnh Thường 224.000.000
  • 11 Huỳnh Thị Vui 224.000.000
  • 12 Đoàn Thị Thiên Phúc 832.000.000
  • 13 Trần Đắc Hùng 249.600.000
  • 14 Trần Thị Cẩm Linh 208.000.000
  • 15 Lê Tuấn Anh 291.200.000
  • 16 Phan Thị Quỳnh Như 274.560.000
  • 17 Nguyễn Quốc Việt 422.400.000
  • 18 Đặng Thu Nga 283.360.000
  • 19 Nguyễn Minh Tân 270.400.000
  • 20 Nguyễn Thị Hồng Bích 291.200.000
  • 21 Mai Thanh Hải 220.000.000
  • 22 Đỗ Hồng Minh 624.000.000
  • 23 Nguyễn Trần Khánh Hoàng 264.000.000
  • 24 Nguyễn Nhâm Dần 268.800.000
  • 25 Lê Chí Hoàng 124.800.000
  • 26 Ngô Đình Hải 224.000.000
  • 27 Bạch Chơn Hy 936.000.000
  • 28 Phạm Thị Ngọc Huệ 270.400.000
  • 29 Nguyễn Văn Sang 257.600.000
  • 30 Đỗ Khắc Minh 234.000.000
  • 31 Hồng Diễm Trang 208.000.000
  • 32 Vũ Tiến Đạt 514.550.000
  • 33 Trần Việt Hải 208.000.000
  • 34 Trần Thị Kim Giang 208.000.000
  • 35 Nguyễn Thị Bảo Châu 291.200.000
  • 36 Phan Trường Thành 395.780.000
  • 37 Phạm Thị Thắm 312.000.000
  • 38 Vũ Thị Sao 224.000.000
  • 39 Hà Quốc Húy 270.400.000
  • 40 Phạm Ngọc Tiến 324.480.000
  • 41 Nguyễn Anh Thành 249.600.000
  • 42 Phan Thị Bê 166.400.000
  • 43 Nguyễn Thị Minh Liên 249.600.000
  • 44 Nguyễn Đức Tấn 291.200.000
  • 45 Cao Thị Kim Lan 873.600.000
  • 46 Trần Ánh Sương 208.000.000
  • 47 Lý Thu Trang 208.000.000
  • 48 Giang Ngọc Tuấn 105.600.000
  • 49 Nguyễn Anh Tuấn 416.000.000
  • 50 Phan Thanh Sơn 378.560.000
  • 51 Tạ Đức Thuận 671.040.000
  • 52 Nguyễn Chuẩn 234.000.000
  • 53 Đào Đức Tiến 358.400.000
  • 54 Đỗ Thị Ngọc Lan 179.200.000
  • 55 Lê Thành Phước 124.800.000
  • 56 Nguyễn Thị Kim Anh 536.000.000
  • 57 Đoàn Văn Nhân 338.200.000 
  • 58 Phùng Minh Chí 608.400.000
  • 59 Đào Văn Dũng 1.748.760.000
  • 60 Hồ Thị Ngọc Minh 249.600.000
  • 61 Trần Văn Dũng 249.600.000
  • 62 Nguyễn Thị Kim Cúc 468.000.000
  • 63 Cù Thị Thơm 224.000.000
  • 64 Đinh Văn Đức 295.750.000
  • 65 Bùi Đức Hoàn Vũ 176.000.000
  • 66 Trần Minh Đạt 249.600.000
  • 67 Lê Tất Thắng 211.200.000
  • 68 Nguyễn Mạnh Hùng 166.400.000
  • 69 Lê Đình Tuấn 218.000.000
  • 70 Bùi Thế Huy 312.000.000
  • 71 Tôn Thất Kỳ Nam 249.600.000
  • 72 Nguyễn Thái Hiệp 415.360.000
  • 73 Lê Thành Ngôn 249.600.000
  • 74 Nguyễn Thị Thanh Phú 224.000.000
  • 75 Võ Chí Lễ 208.000.000
  • 76 Nguyễn Sơn Linh 324.480.000
  • 77 Nguyễn Xuân Trinh 324.480.000
  • 78 Hồ Thị Thúy Phượng 249.600.000
  • 79 Nguyễn Văn Thọ 614.000.000
  • 80 Liêu Thị Tú Hiền 359.700.000
  • 81 Phạm Đức Dũng 208.000.000
  • 82 Nguyễn Giang Tuấn 228.800.000
  • 83 La Thị Kim Dung 249.600.000
  • 84 Tường Thiện Nhơn 208.000.000
  • 85 Nguyễn Văn Dũng 249.600.000
  • 86 Võ Thị Minh Hải 358.400.000
  • 87 Nguyễn Thị Lương Minh 270.400.000
  • 88 Nguyễn Hải Vương 249.600.000
  • 89 Hoàng Thị Thái Nhân 390.000.000
  • 90 Vũ Khắc Tuấn 270.400.000
  • 91 Võ Kim Thông 208.000.000
  • 92 Lê Thu Trà 208.000.000
  • 93 Trần Hiền Phước 249.600.000
  • 94 Nguyễn Hữu Thuật 166.400.000
  • 95 La Thanh Sơn 249.600.000
  • 96 Ngô Văn Chiến 208.000.000
  • 97 Huỳnh Thanh Hoàng 374.320.000
  • 98 Trần Thị Phương 166.400.000
  • 99 Trần Thanh Liêm 478.400.000
  • 100 Nguyễn Hữu Thạch 176.000.000
  • 101 Lê Nguyễn Trọng Khanh 228.800.000
  • 102 Trần Đức Khôi 211.200.000
  • 103 Nguyễn Xuân Diệu 208.000.000
  • 104 Phạm Tấn Thắng 124.800.000
  • 105 Trần Thị Tường Lâm 208.000.000
  • 106 Nguyễn Cao Quí 176.000.000
  • 107 Kiều Quang Hiếu 208.000.000
  • 108 Lê Văn Tuấn 270.400.000
  • 109 Nguyễn Thị Kim Thanh 134.400.000
  • 110 Nguyễn Quang Viên 268.800.000
  • 111 Nguyễn Thanh Long 208.000.000

Tổng số tiền chiếm đoạt là 33.955.060.000 đồng; trong đó khách hàng trực tiếp đến Công ty Sài Gòn Cây Cảnh nộp 2.985.420.000 đồng, nộp tại Công ty Nam Tiến 30.969.640.000 đồng (số tiền này Phương chuyển 27.773.018.000 đồng cho Công ty Sài Gòn Cây Cảnh thể hiện trên 98 phiếu chi và được hoàn lại 1.799.925.000 đồng tiền hoa hồng).

Ngoài ra, theo thỏa thuận riêng với Đặng Đức Trung, Phương còn thu tiền hệ số đường, hệ số góc của 82 bị hại, cụ thể:

STT Họ Tên khách hàng Số tiền đã nộp

Số tiền Công ty Nam Tiến đã trả

  • 1 Nguyễn Thị Ngọc Bích 70.000.000 70.000.000
  • 2 Nguyễn Thị Ngọc Dung 70.000.000 70.000.000
  • 3 Trần Thị Hồng 40.000.000 40.000.000
  • 4 Nguyễn Ngọc Tân 180.000.000 180.000.000
  • 5 Đỗ Quốc Dũng 40.000.000 40.000.000
  • 6 Nguyễn Huy Hoàng 100.000.000 100.000.000 
  • 7 Vũ Mạnh Thường 100.000.000 100.000.000 
  • 8 Huỳnh Thị Vui 100.000.000 100.000.000 
  • 9 Đoàn Thị Thiên Phúc 330.000.000 330.000.000
  • 10 Trần Đắc Hùng 40.000.000 40.000.000
  • 11 Trần Thị Cẩm Linh 40.000.000 40.000.000
  • 12 Lê Tuấn Anh 30.000.000 30.000.000
  • 13 Đặng Thu Nga 120.000.000 120.000.000
  • 14 Nguyễn Minh Tân 60.000.000 60.000.000
  • 15 Nguyễn Thị Hồng Bích 40.000.000 40.000.000
  • 16 Đỗ Hồng Minh 120.000.000 120.000.000
  • 17 Nguyễn Trần Khánh Hoàng 40.000.000
  • 18 Nguyễn Nhâm Dần 70.000.000 70.000.000
  • 19 Lê Chí Hoàng 70.000.000 70.000.000
  • 20 Ngô Đình Hải 70.000.000 70.000.000
  • 21 Phạm Thị Ngọc Huệ 60.000.000 60.000.000
  • 22 Nguyễn Văn Sang 70.000.000 70.000.000
  • 23 Đỗ Khắc Minh 60.000.000
  • 24 Hồng Diễm Trang 40.000.000 40.000.000
  • 25 Vũ Tiến Đạt 210.000.000 210.000.000
  • 26 Nguyễn Thị Bảo Châu 40.000.000 40.000.000
  • 27 Vũ Thị Sao 70.000.000 70.000.000
  • 28 Hà Quốc Húy 60.000.000 60.000.000
  • 29 Phạm Ngọc Tiến 60.000.000 60.000.000
  • 30 Nguyễn Anh Thành 70.000.000 70.000.000
  • 31 Nguyễn Thị Minh Liên 60.000.000 60.000.000
  • 32 Nguyễn Đức Tấn 120.000.000
  • 33 Cao Thị Kim Lan 260.000.000
  • 34 Lý Thu Trang 90.000.000 90.000.000
  • 35 Phan Thanh Sơn 60.000.000
  • 36 Tạ Đức Thuận 180.000.000 180.000.000
  • 37 Nguyễn Chuẩn 20.000.000 20.000.000
  • 38 Đào Đức Tiến 140.000.000 140.000.000
  • 39 Đỗ Thị Ngọc Lan 70.000.000 70.000.000
  • 40 Lê Thành Phước 110.000.000
  • 41 Nguyễn Thị Kim Anh 140.000.000 70.000.000
  • 42 Đoàn Văn Nhân 60.000.000 60.000.000
  • 43 Phùng Minh Chí 120.000.000
  • 44 Đào Văn Dũng 455.000.000 455.000.000
  • 45 Hồ Thị Ngọc Minh 70.000.000 70.000.000
  • 46 Trần Văn Dũng 70.000.00
  • 47 Nguyễn Thị Kim Cúc 20.000.000
  • 48 Cù Thị Thơm 70.000.000 70.000.000
  • 49 Đinh Văn Đức 110.000.000 110.000.000
  • 50 Trần Minh Đạt 70.000.000
  • 51 Nguyễn Mạnh Hùng 110.000.000
  • 52 Lê Đình Tuấn 40.000.000 40.000.000
  • 53 Bùi Thế Huy 20.000.000
  • 54 Lê Thành Ngôn 70.000.000
  • 55 Nguyễn Thị Thanh Phú 70.000.000 70.000.000
  • 56 Võ Chí Lễ 70.000.000 70.000.000
  • 57 Nguyễn Sơn Linh 60.000.000 60.000.000
  • 58 Nguyễn Xuân Trinh 60.000.000 60.000.000
  • 59 Hồ Thị Thúy Phượng 40.000.000
  • 60 Nguyễn Văn Thọ 20.000.000 20.000.000
  • 61 Phạm Đức Dũng 110.000.000 110.000.000
  • 62 La Thị Kim Dung 70.000.000
  • 63 Tường Thiện Nhơn 140.000.000 140.000.000
  • 64 Nguyễn Văn Dũng 70.000.000
  • 65 Võ Thị Minh Hải 140.000.000 140.000.000
  • 66 Nguyễn Thị Lương Minh 60.000.000 60.000.000
  • 67 Nguyễn Hải Vương 30.000.000
  • 68 Hoàng Thị Thái Nhân 20.000.000
  • 69 Vũ Khắc Tuấn 60.000.000
  • 70 Võ Kim Thông 40.000.000
  • 71 Trần Hiền Phước 90.000.000 90.000.000
  • 72 La Thanh Sơn 70.000.000
  • 73 Ngô Văn Chiến 40.000.000
  • 74 Huỳnh Thanh Hoàng 90.000.000 90.000.000
  • 75 Trần Thị Phương 70.000.000
  • 76 Trần Thanh Liêm 120.000.000 120.000.000
  • 77 Nguyễn Xuân Diệu 30.000.000
  • 78 Phạm Tấn Thắng 90.000.000 90.000.000
  • 79 Trần Thị Tường Lâm 40.000.000
  • 80 Kiều Quang Hiếu 110.000.000 110.000.000
  • 81 Lê Văn Tuấn 110.000.000
  • 82 Nguyễn Thị Kim Thanh 70.000.000

Tổng số tiền chiếm đoạt là 6.955.000.000đ, Phương đã chuyển 3.497.500.000 đồng cho Đặng Đức Trung, Đặng Trọng Nhân và Phạm Trí Đức hưởng. Như vậy, tổng số tiền Trần Đức Phương chiếm hưởng là 8.494.047.000 đồng, hiện Phương đã trả lại 5.035.000.000 đồng tiền hệ số đường, hệ số góc cho 55 bị hại, còn đang chiếm hưởng 3.459.047.000 đồng. Đặng Trọng Nhân ký nhận 53 phiếu chi của Công ty Nam Tiến tổng số tiền là 17.679.038.000 đồng, Nhân đã nộp cho Công ty Sài Gòn Cây Cảnh 17.212.580. 000 đồng, còn chiếm hưởng 466.458.000 đồng. Hiện Nhân đã nộp tại Cơ quan điều tra 300.000.000 đồng và nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai 166.458.000 đồng để khắc phục hậu quả, còn Phạm Trí Đức hưởng lợi là 1.793.152.000 đồng. 

Ngày 27/7/2010, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Đồng Nai đã có Quyết định trưng cầu giám định số 14/QĐ-PC46 trưng cầu Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai giám định và thẩm định giá trị thực tế dự án Khu dân cư Tam Phước do Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương đã chi phí đầu tư trên diện tích 101.700m2 đất do Tình và Sương đứng tên sử dụng. Ngày 12/01/2011, Trung tâm kiểm định xây dựng thuộc Sở xây dựng tỉnh Đồng Nai có Báo cáo kết quả giám định chất lượng công trình số 07/1A/BCKD/DQC/2010, xác định giá trị đầu tư tại dự án Khu dân cư Tam Phước giá trị đầu tư thực tế là 11.293.151.000 đồng. Cụ thể như sau: “Hạng mục nhà văn phòng số tiền: 2.910.475.000 đồng; Hạng mục hạ tầng cơ sở số tiền: 6.094.411.000 đồng; Hạng mục san nền số tiền: 2.288.265.000 đồng”;(BL 777-779; 5758)

Theo Tình và Sương khai đã sử dụng số tiền trên để trả nợ cá nhân, trả tiền thuê địa điểm văn phòng công ty; mua đất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dự án khu dân cư Tam Phước... khoảng 100 tỷ đồng nhưng không có chứng từ chứng minh; chuyển tiền ra nước ngoài theo hợp đồng cơ cấu nguồn vốn đã ký với Tập đoàn tài chính EVO GLOBAL asset management limited và Công ty GLEEDS AUSLIA.plyltd. 

Kết quả xác minh: Nguyễn Văn Tình đã chuyển tiền ra nước ngoài 03 đợt tổng cộng 130.650USD, trong đó, ngày 11/12/2007 chuyển 43.550 USD (tương đương 703.114.750 VNĐ tại thời điểm); ngày 29/02/2008 chuyển 43.550 USD (tương đương 701.416.300 VNĐ tại thời điểm); ngày 27/3/2008 chuyển 43.550 USD (tương đương 700.196.900 VNĐ tại thời điểm) cho Công ty GLEEDS AUSLIA.plyltd, nội dung chuyển trả theo hợp đồng dịch vụ quản lý dự án ký ngày 27/11/2007 với Công ty Sài Gòn Cây Cảnh; ngày 25/02/2008, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương chuyển 495.500 USD (tương đương 7.980.523.000 VNĐ) cho Tập đoàn tài chính EVO GLOBAL asset management limited theo hợp đồng cơ cấu vốn ký kết giữa hai bên vào tháng 10/2007; ngày 13/3/2008 chuyển 45.550 USD (tương đương khoảng 734 triệu đồng) cho Công ty Allen Jack and Cottier về phí thiết kế dự án Long Thành; tổng số tiền Tình và Sương đã chuyển ra nước ngoài là 11.602.419.250đ (Mười một tỷ, sáu trăm lẻ hai triệu, bốn trăm mười chín nghìn, hai trăm năm mươi đồng theo tỷ giá USD thời điểm giao dịch). 

Qúa trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Đồng Nai và Cơ quan CSĐT (C02) - Bộ Công an đã có nhiều văn bản đề nghị Văn phòng INTERPOL Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an xác minh làm rõ việc chuyển tiền cho 3 tổ chức này tại Australia (Úc), nhưng chưa có kết quả; gửi Viện KSND tối cao yêu cầu thực hiện uỷ thác tư pháp về hình sự, chuyển hồ sơ uỷ thác tư pháp đến Cơ quan Tổng chưởng lý, Ô-xtơ-rây-li-a, sau đó có nhiều công văn khác tiếp tục đề nghị cung cấp tài liệu nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. 

Ngày 09/11/2021 Cơ quan CSĐT (C02) - Bộ Công an đã có Công văn số 5457/CSHS-P8 gửi Bộ Công Thương xác minh về việc hai Công ty trên có đăng ký Văn phòng đại diện tại Việt Nam hay không. Tại Công văn số 7945/BCT-KH ngày 13/12/2021 của Bộ Công Thương xác định đến hết ngày 24/11/2021 Bộ Công Thương chưa cấp phép thành lập Văn phòng đại diện cho thương nhân EVO GLOBAL asset management limited và thương nhân GLEEDS AUSLIA.plyltd (Austraylia) tại Việt Nam. 

Đối với 05 thửa đất của Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương, ngày 25/6/2015, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai ra quyết định thi hành án số 75/QĐ-CTHA thi hành Bản án hình sự phúc thẩm số 274/2015/HSPT ngày 21/5/2015 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó đã kê biên, tổ chức bán đấu giá tài sản và giao 05 thửa đất trên cho người trúng đấu giá là ông Lê Đình Tài. Ngày 13/11/2017 Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đồng Nai đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 05 thửa đất trên cho ông Lê Đình Tài. Ngày 29/11/2021, Cơ quan CSĐT (C02) - Bộ Công an đã có Công văn số 5829/CSHS-P8 gửi Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai yêu cầu các Phòng công chứng và Văn phòng công chứng trực thuộc tạm dừng công chứng tất cả hồ sơ, giấy tờ liên quan đến các thửa đất số 180, 236, 237, 286, 237b, 237c và 707 tại Tờ bản đồ số 3, xã Tam Phước, huyện Long Thành, Đồng Nai (nay là các thửa đất số 11, 13, 14, 19, 20, 40, 41 tờ bản đồ số 6, xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai). 

Quá trình điều tra, bị can Đặng Đức Trung bỏ trốn, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định truy nã số 02/QĐ ngày 10/10/2013 và tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Trung. Đối với bị can Trần Đức Phương, hiện đã bỏ trốn, ngày 24/11/2022, Cơ quan CSĐT (C02) - Bộ Công an đã ra Lệnh truy nã, quyết định tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Phương, khi bắt được sẽ xử lý sau. 

Trong vụ án này, Phạm Trí Đức có hành vi giới thiệu Đặng Đức Trung gặp Trần Đức Phương để trao đổi về việc phân phối dự án khu dân cư Tam Phước và được hưởng lợi 1.793.152.000 đồng. Xét thấy, Phạm Trí Đức không biết dự án chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý và không tham gia thỏa thuận, bàn bạc với Trung, Phương ký hợp đồng bán nền đất cho khách hàng mà chỉ được Trung, Phương trả tiền hoa hồng giới thiệu dự án. Do vậy, Cơ quan CSĐT (C02) - Bộ Công an không xem xét xử lý hình sự đối với Phạm Trí Đức là có căn cứ. Tuy nhiên Đức phải chịu trách nhiệm bồi hoàn số tiền đã chiếm hưởng là 1.793.152.000 đồng. 

Vật chứng của vụ án: Đối với các giấy vay tiền do Nguyễn Văn Tình và Nguyễn Thị Chí Sương ký; các Hợp đồng góp vốn, các phiếu thu tiền... Cơ quan điều tra đã thu giữ và lưu trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn thu giữ: 04 đĩa VCD (01 đĩa có nội dung ghi trên bìa nhãn đĩa “Thời sự Đồng Nai triển khai dự án đô thị mới Tam Phước; HTV7- 20/3/2008-(18h04-18h05); VTV1-9/3/2008 (23h02-23h03); VTV1-20/3/2008- (19h13-19h14)”; 01 đĩa có nội dung ghi trên nhãn đĩa "Lễ ký kết tại TP”; 01 đĩa có nội dung ghi trên nhãn đĩa “Tổng hợp Sài Gòn CC2”; 01 đĩa có nội dung ghi trên nhãn đĩa “Đồng Nai triển khai dự án đô thị mới Tam Phước”; 02 điện thoại di động của Nguyễn Văn Tình; Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai đang tạm giữ 7 con dấu (01 con dấu giám đốc điều hành có tên Đào Hải Hùng; 01 con dấu giám đốc dự án có tên Nguyễn Hữu Cường; 01 con dấu sao y bản chính; 01 con dấu giám đốc TH có tên Nguyễn Hữu Phước; 01 con dấu tên Nguyễn Văn Tình; 01 con dấu chủ tịch Hội đồng quản trị; 01 con dấu Công ty Sài Gòn cây cảnh) và 01 hộ chiếu số B1362436 mang tên Nguyễn Văn Tình. Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT - Bộ Công an đã đăng tải thông báo tìm bị hại trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đến nay đã xác định được 404 người bị hại, bị chiếm đoạt 293.429.730.000 đồng bằng thủ đoạn ký hợp đồng góp vốn, để mua bán đất nền dự án khu dân cư Tam Phước của Công ty Sài Gòn Cây Cảnh, hiện các bị hại đều có yêu cầu Nguyễn Văn Tình và đồng phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

* Tại Cáo trạng số 4072/CTr-VKSTC-V2 ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tình và đồng phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện VKSND giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

Bị cáo Đặng Trọng Nhân thành khẩn khai nhận tội, đã nộp lại số tiền hưởng lợi để trả lại cho người bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, Điều 51, Điều 54 BLHS 2015; Các bị cáo Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Thị Chí Sương, Đinh Quốc Lực, Võ Hoàng Yến và Đặng Trọng Nhân bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Trên cơ sở đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Văn Tình mức án 19- 20 năm tù.
  • Bị cáo Nguyễn Thị Chí Sương mức án từ 15-16 năm tù;
  • Bị cáo Đinh Quốc Lực mức án từ 09-10 năm tù;
  • Bị cáo Võ Hoàng Yến mức án 07-08 năm tù;
  • Bị cáo Đặng Trọng Nhân mức án từ 04-05 năm tù;

- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47, 48, BLHS năm 2015, đề nghị HĐXX tuyên buộc: Bị cáo Nguyễn Văn Tình phải liên đới với bị cáo Nguyễn Thị Chí Sương bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 323.689.730.000 đồng cho người bị hại trong vụ án. Bị cáo Đinh Quốc Lực phải nộp lại số tiền hưởng lợi 6.539.160.000 đồng; Bị cáo Võ Hoàng Yến phải nộp lại số tiền hưởng lợi 1.384.920.000 đồng. Bị cáo Đặng Trọng Nhân đã nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính nên không đặt ra giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Đối với 10,2 ha đất tại dự án nêu trên đã được bán đấu giá. Hiện nay, Toà án nhân dân Tối cao đã huỷ và nhập 2 vụ án chung lại. Tuy nhiên, việc huỷ kết giá đấu giá thì theo phải quy định Điều 102 Luật thi hành án dân sự, chủ thể có quyền huỷ kết quả bán đấu là người mua được tài sản đấu giá hoặc chấp hành viên. Ngoài ra, người có tài sản nếu không đồng ý có quyền khiếu nại về khiếu về quá trình bán đấu giá tài sản. 

Theo biên bản xác minh ngày 07/2/2023, Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai trả lời hiện không nhận được đơn của các bị cáo Tình, Sương khiếu nại hay ông Tài khởi kiện hủy kết quả bán đấu giá. Quá trình kiểm tra việc thi hành án thì Vụ 11 Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đã có Kết luận số 83 nêu lên 10 vi phạm và kiến nghị Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Đồng thời, ngày 27/9/2019, Vụ 11 Viện kiểm sát nhân dân Tối cao có văn bản gửi Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Tối cao điều tra để xử lý vi phạm của chấp hành viên, hiện nay vụ việc này đã được thụ lý. Sau khi có Quyết định giám đốc thẩm số 20 thì Viện kiểm sát nhân dân Tối cao tiếp tục có văn bản số 86 để Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai xem xét xử lý theo quy định. Căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 14; điểm c, d khoản 3 và khoản 4 Điều 170 Luật THADS thì, khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Toà án phải có văn bản yêu cầu cơ quan THADS báo cáo về kết quả thi hành bản án, quyết định để có cơ sở giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy. 

Khoản 7 Điều 14 Luật THADS - Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh quy định: 

“7. Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu”. 

Điểm c, d khoản 3 và khoản 4 Điều 170 Luật THADS - Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án dân sự quy định: 

  • “3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương:
    • c) Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án;
    • d) Giải quyết kiến nghị, yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự và theo dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án trả lời.

4. Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy”.

Do Toà án sẽ giải quyết vấn đề liên quan theo quy định luật dân sự và thi hành án dân sự nên Viện kiểm sát không nêu quan điểm về vấn đề này.

- Quan điểm bào chữa của các Luật sư:

1. Luật sư Trần Việt Cường bào chữa cho bị cáo Tình và Sương trình bày: Không đồng ý với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, 10,2ha đất là vật chứng vụ án và cho rằng chưa được làm rõ cần hoãn phiên tòa để làm rõ đối với 10,2 ha đất và 02 xe ô tô vì tiền mua 02 ô tô là của bị cáo Tình, Sương. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến việc cấp và duyệt Dự án 1/500 để làm rõ trách nhiệm trong việc quản lý phê duyệt của những người và cơ quan có thẩm quyền ở tỉnh Đồng Nai đối với Dự án này.

Luật sư Trần Hải Đức bào chữa cho bị cáo Tình và Sương trình bày: Không đồng ý bản cáo trạng, các cơ quan tiến hành tố tụng không đưa bị hại là Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam vào tham gia tố tụng là vi phạm, không đưa tài sản tang vật 10,2ha đất vào trong vụ án để xét xử, tài sản thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai bán đấu giá không đảm bảo quy định pháp luật. Do đó, việc buộc tội danh và hình phạt đối với các bị cáo chưa đảm bảo vì các bị cáo không còn tài sản để bồi thường cho bị hại.

2. Luật sư Nguyễn Hữu Thế Trạch bào chữa cho bị cáo Yến và Lực trình bày: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo Yến và Lực. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Yến mà chưa được Viện kiểm sát ghi nhận cụ thể bị cáo Yến là mẹ đơn thân hiện tại có con còn nhỏ cần người chăm sóc, ngoài ra trong quá trình thực hiện bị cáo Yến chỉ là người thực hiện công việc hành chính như thu tiền, giao tiền cho Công ty Sài Gòn Cây Cảnh, bản thân bị cáo Yến trước đó không quen biết bị cáo Tình, Sương và cũng không biết bị cáo Tình, Sương thế chấp giấy tờ đất. Cáo trạng đã buộc bị cáo Yến phải nộp lại số tiền hơn 1,3 tỷ đồng là đúng. Tuy nhiên bị cáo chưa có tiền nộp được vì gia đình bị cáo Yến khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Yến.

Đối với bị cáo Lực, cáo trạng truy tố buộc bị cáo Lực phải nộp lại hơn 6 tỷ đồng chỉ dựa vào lời khai của bị cáo Sương là chưa thuyết phục vì không có chứng cứ chứng minh việc trích hoa hồng mà bị cáo được hưởng. Đối với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng là không đúng vì hành vi của các bị cáo đã được định khung thì không áp dụng tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Yến và Lực dưới mức Viện kiểm sát đề nghị.

3. Luật sư Vũ Duy Nam bào chữa cho bị cáo Nhân trình bày: Thống nhất tội danh Viện kiểm sát truy tố, ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên đối với bị cáo. Bị cáo Nhân có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đại diện Viện kiểm sát đã nêu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, neo đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất bằng với thời gian đã tạm giam.

4. Người bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại ông Tài, bà Yến là Luật sư Hoàng Như Vĩnh trình bày: Không đồng ý nội dung quyết định Giám đốc thẩm số 20 ngày 22/4/2021, xác định bị cáo Tình và Sương chỉ phạm một tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là chưa đúng. Hành vi của bị cáo Tình và Sương phạm 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đối với 10,2 ha đất mà ông Tài mua được từ bán đấu giá tài sản được thực hiện đúng theo quy định pháp luật về thi hành án vì vậy 10,2 ha đất không phải tang vật hay vật chứng của vụ án như các Luật sư của các bị cáo trình bày mà tang vật của vụ án là số tiền 293 tỷ đồng các bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại thì các bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho các bị hại. Đối với số tiền hơn 40 tỷ đồng mà ông Tài cho Tình, Sương vay, đề nghị Hội đồng xét xử xác định thêm tư cách ông Tài là nguyên đơn dân sự trong vụ án để giải quyết buộc Tình và Sương có trách nhiệm trả hơn 40 tỷ đồng cho ông Tài bà Yến. Đề nghị công nhận kết quả bán đấu giá tài sản 10,2 ha đất là tài sản hợp pháp của ông Tài lý do theo quy định pháp luật thi hành án dân sự và Bộ luật dân sự bảo vệ người mua trúng đấu giá, ông Tài là người đã mua 10,2 ha đất thông qua kết quả bán đấu giá nên đây là tài sản của ông Tài, ông Tài đã chuyển nhượng cho 04 người khác đúng theo quy định pháp luật thì 04 người này cần được pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Đối với 02 xe ô tô đề nghị công nhận là tài sản hợp pháp của Công ty Hà Linh (nay là công ty TNHH Lê Hương Sơn) vì việc mua bán và chuyển tiền đều thể hiện của Công ty Hà Linh.

5. Người bảo vệ quyền và lợi ích của bà Nguyễn Thị Điệp là Luật sư Đỗ Hữu Đĩnh trình bày: Hành vi của các bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì các bị cáo không gian dối, không có mục đích chiếm đoạt, dự án khu dân cư đã được đảm bảo theo quy định pháp luật, do đó hành vi góp vốn của các bị hại và các bị cáo đều thực hiện theo Nghị định 71/2010 là hợp pháp. Do đó 10,2 ha đất là tài sản đồng sở hữu của các bị hại cùng với Tình, Sương. Do đó, việc cơ quan thi hành án tỉnh Đồng Nai đã bán đấu giá 10,2 ha đất là không đúng đề nghị Hội đồng xét xử hủy kết quả bán đấu giá. Đề nghị ghi nhận số tiền của bà Điệp bị thiệt hại là như trình bày của bà Điệp tại phiên tòa, cáo trạng truy tố số tiền bà Điệp bị thiệt hại còn thiếu 02 hợp đồng.

6. Người bảo vệ quyền và lợi ích của bà Nguyễn Thị Thùy Lan là Luật sư Nguyễn Thị Hà Nhi trình bày: Khi là thành viên Công ty Nam Tiến bà Lan không tham gia các hoạt động của công ty Nam Tiến, mọi hoạt động của công ty do ông Phương thực hiện.Từ tháng 6/2014 bà Lan không còn là thành viên Công Nam Tiến, tháng 10/2014 bà Lan và ông Phương ly hôn. Đến nay bà Lan không còn liên quan đến công ty Nam Tiến không biết ông Phương hiện tại ở đâu.

* Bị cáo nói lời sau cùng:

  • Bị cáo Tình trình bày: cần làm rõ hành vi đối với ông Tài, vì ông Tài nợ tiền của bị cáo. Đề nghị hoãn phiên tòa để làm rõ.
  • Bị cáo Lực trình bày: Cơ quan điều tra ghi lời khai không đúng, lời khai tại phiên tòa bị cáo không nhận số tiền hơn 6 tỷ là đúng, bị cáo không lừa đảo, nhân thân tốt, bị cáo còn con nhỏ.
  • Bị cáo Nhân trình bày: Mức án Viện kiểm sát đề nghị nặng, bị cáo không lừa, chỉ vai trò giúp sức thứ yếu thực hiện theo chỉ đạo, xin giảm nhẹ hình phạt xử bằng thời gian đã tạm giam để bị cáo lo cho gia đình, cần tạo án lệ miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
  • Bị cáo Yến trình bày: xin bỏ tình tiết tăng nặng, đã tạm giam 13 tháng xin xử bằng thời gian đã tạm giam.
  • Bị cáo Sương trình bày: lấy lại vật chứng và xin mức hình phạt nhẹ.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét