Quyết định: số 02 ngày 16/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội, TP. Hà Nội (20.03.2026)

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – HÀ NỘI

Số: 02/2026/QÐST - DS

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 16 tháng 01 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lã Phi Hùng;
  • Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Lành, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội;
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở TAND khu vực 12 - Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 600/2025/TLST - VDS ngày 25/12/2025, về việc yêu cầu Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2026/QĐST - VDS ngày 08/01/2026 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

  • Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1975
    • Địa chỉ: Thôn P, xã Ứ, thành phố Hà Nội.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975
      • Địa chỉ: Thôn P, xã Ứ, thành phố Hà Nội.
    • UBND xã P, Thành phố Hà Nội.
      • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Xuân H2 - Chủ tịch UBND xã P.

Ông H, bà H1, UBND xã P đều xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân và những lời khai có trong hồ sơ ông Đặng Văn H trình bày:

Ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975 và bà Đặng Thị H1, sinh ngày 05/3/1975 kết hôn với nhau năm 1994, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Hà Tây (nay là UBND xã P, Thành phố Hà Nội). Thời điểm đăng ký kết hôn ông Đặng Văn H chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nhưng vì thiếu hiểu biết pháp luật nên ông H, bà H1 đã đi đăng ký kết hôn. Tại sổ đăng ký kết hôn của UBND xã P và trích lục kết hôn (bản sao) có ghi: Họ, chữ đệm, tên vợ: Đặng Thị H1, sinh năm 1975; Họ, chữ đệm, tên chồng: Đặng Văn H, sinh năm 1973. Ngoài vi phạm về độ tuổi kết hôn thì ông H, bà H1 không vi phạm điều kiện kết hôn nào khác. Từ sau khi kết hôn đến nay ông H, bà H1 vẫn chung sống hòa thuận và đã có con chung, tài sản chung. Vì vậy, ông H yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Đặng Văn H, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975 tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 25/3/1994 và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975 và bà Đặng Thị H1, sinh ngày 05/3/1975 kể từ ngày ông Đặng Văn H đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.

  • Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là anh Đặng Tiến H3, sinh ngày 10/12/1994 và chị Đặng Thị Ngọc H4, sinh ngày 27/10/1999. Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn, bà Đặng Thị H1 trình bày:

Bà Đặng Thị H1, sinh ngày 05/3/1975 kết hôn với ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Hà Tây ngày 25/3/1994 (nay là UBND xã P, Thành phố Hà Nội). Thời điểm đăng ký kết hôn ông Đặng Văn H chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nhưng vì thiếu hiểu biết pháp luật nên ông H, bà H1 đã đi đăng ký kết hôn. Tại sổ đăng ký kết hôn của UBND xã P và trích lục kết hôn (bản sao) có ghi: Họ, chữ đệm, tên vợ: Đặng Thị H1, sinh năm 1975; Họ, chữ đệm, tên chồng: Đặng Văn H, sinh năm 1973. Thực tế ông Đặng Văn H, sinh năm 1975 chứ không phải ông Đặng Văn H, sinh năm 1973. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Do vậy, bà H1 đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 12 – Hà Nội hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Đặng Văn H, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975 và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975 và bà Đặng Thị H1, sinh ngày 05/3/1975.

  • Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là anh Đặng Tiến H3, sinh ngày 10/12/1994 và chị Đặng Thị Ngọc H4, sinh ngày 27/10/1999. Bà H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản chung: Bà H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã P, Thành phố Hà Nội có ý kiến như sau:

Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975 có đăng ký kết hôn số 07/1994, ngày 25/3/1994. Theo sổ đăng ký kết hôn ông Đặng Văn H đủ tuổi kết hôn, nhưng các giấy tờ thực tế ông H mới 19 tuổi chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định. Do sơ suất Ủy ban nhân dân xã P đã đăng ký kết hôn cho ông Đặng Văn H và bà Đặng Thị H1. Vì vậy, Ủy ban nhân dân xã P, Thành phố Hà Nội đề nghị Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Đặng Văn H, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975.

Đại diện VKSND khu vực 12 - Hà Nội tham gia phiên họp phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 21 của Bộ luật dân sự năm 2025, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật giữa ông Đặng Văn H, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975 và bà Đặng Thị H1, sinh ngày 05/3/1975 kể từ ngày ông H đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (ngày 23/6/1995); về con chung, tài sản chung: Không đề nghị Toà án giải quyết; về lệ phí: Ông Đặng Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự tại hồ sơ và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội nhận định:

  • Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Yêu cầu về việc “Huỷ kết hôn trái pháp luật” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự, do Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Hà Tây (nay là UBND xã P, Thành phố Hà Nội) đăng ký kết hôn trái pháp luật, nên căn cứ vào Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025 thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hà Nội.
  • Về yêu cầu của đương sự:
    • Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Đặng Văn H và bà Đặng Thị H1 là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện M, tỉnh Hà Tây (nay là UBND xã P, Thành phố Hà Nội) vào ngày 25/3/1994. Căn cứ vào những chứng cứ thu thập được như Căn cước công dân... thấy rằng ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975. Ngày 25/3/1994 ông Đặng Văn H đăng ký kết hôn với bà Đặng Thị H1 thì ông Đặng Văn H mới đủ 19 tuổi là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Quá trình giải quyết ông H, bà H1 đều đề nghị Tòa án Huỷ kết hôn trái pháp luật và công nhận quan hệ hôn nhân. Căn cứ: Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Văn H hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Đặng Văn H và bà Đặng Thị H1. Công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975 đăng ký kết hôn với bà Đặng Thị H1, sinh ngày 05/3/1975 kể từ thời điểm ông Đặng Văn H đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 23/6/1995.
    • Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là anh Đặng Tiến H3, sinh ngày 10/12/1994 và chị Đặng Thị Ngọc H4, sinh ngày 27/10/1999. Ông Đặng Văn H và bà Đặng Thị H1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Toà không xét.
    • Về tài sản chung: Ông Đặng Văn H và bà Đặng Thị H1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Toà không xét.
    • Về lệ phí dân sự: Ông Đặng Văn H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 29; Điều 35; Điều 39; Điều 149; Điều 367, Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.

Căn cứ khoản 6 Điều 3; Điều 8; Điều 11; Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Đặng Văn H.

  • Về quan hệ hôn nhân: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông Đặng Văn H, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị H1, sinh năm 1975 theo đăng ký kết hôn số 07/1994 ngày 25/3/1994 của UBND xã P, huyện M, tỉnh Hà Tây (nay là UBND xã P, Thành phố Hà Nội).
  • Công nhận quan hệ hôn nhân của ông Đặng Văn H, sinh ngày 22/6/1975 và bà Đặng Thị H1, sinh ngày 05/3/1975 kể từ thời điểm ông Đặng Văn H đủ tuổi kết hôn, kể từ ngày 23/6/1995.

2. Về lệ phí Tòa án: Đặng Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0021235 ngày 25/12/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Hà Nội. Ông H đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: * Người yêu cầu vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần quyết định này liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
  • Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Hà Nội có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
  • Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Nơi nhận:

  • TAND Thành phố;
  • VKSND Thành phố;
  • VKSND khu vực 12 - Hà Nội;
  • Phòng THADS khu vực 12 - Hà Nội;
  • Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ việc dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

(Đã ký) Lã Phi Hùng

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét