TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – GIA LAI Số: 01/2026/QĐST-DS | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Gia Lai, ngày 7 tháng 5 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI
QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu
tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN
NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – GIA LAI
Thành phần
giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thành Long
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Lê Hiền Băng – Thư ký
Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 10, tỉnh Gia Lai tham gia phiên họp: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát
viên.
Ngày 7 tháng
5 năm 2026, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Gia Lai mở phiên họp sơ thẩm
công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 55/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm
2025 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp
sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2026/QÐST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2026, gồm
những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc
dân sự: Bà Trịnh
Thị C, sinh năm 1976; địa chỉ tại: Đ, thôn E, xã K, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC
DÂN SỰ:
Người yêu cầu
giải quyết việc dân sự là bà Trịnh Thị C trình bày:
- Bà và ông Nguyễn Tấn K xây dựng gia đình và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 15-9-2010 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ. Ông bà có 03 con chung là Nguyễn Thị Mỹ T, sinh ngày 24-10-1995, Nguyễn Thị Hoàng L, sinh ngày 24-1-1999 và Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 19-12-2002.
- Từ lúc chung sống với nhau, ông bà không có mâu thuẫn gì, nhưng thời gian sau đó thì giữa ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đỉnh điểm là vào năm 2014, sau khi xảy ra mâu thuẫn, ông K tự bỏ nhà đi; năm 2018, ông K có về 1 lần rồi từ đó bỏ đi luôn cho đến bây giờ.
- Bà đã nhiều lần tìm kiếm, nhưng vẫn không có tin tức gì của ông K. Năm 2022, bà còn làm thủ tục đăng tin tìm kiếm ông K trên sóng truyền hình Gia Lai, nhưng vẫn không thấy ông K liên hệ. Hiện nay, ông K đã biệt tích gần 8 năm, bà không biết ông K ở đâu mặc dù đã tìm kiếm nhiều nơi và đăng tin tìm kiếm, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của ông K là ở Đ, Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (nay là Thôn E, xã K, tỉnh Gia Lai).
- Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Tấn K, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Đội 1, thôn E, xã K, tỉnh Gia Lai mất tích.
2.
Sau
khi thụ lý, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Gia Lai đã quyết định thông báo tìm kiếm
người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Tấn K, đăng thông tin tìm
kiếm trên 03 số báo liên tiếp 104, 105, 106 ra các ngày 26-12-2025; 31-12-2025
và ngày 2-1-2026; trên Đài tiếng nói Việt Nam các ngày 17, 18 và ngày 19 tháng
12 năm 2025; trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai ngày
14 tháng 01 năm 2026. Đến nay, đã hết 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo
lần đầu tiên nhưng việc tìm kiếm không có kết quả, không có tin tức gì về ông
Nguyễn Tấn K.
Tại phiên họp:
- Người yêu cầu giải quyết việc
dân sự giữ nguyên yêu cầu.
- Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp
nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị C; tuyên bố ông Nguyễn Tấn K, sinh năm 1974;
địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Đội 1, thôn E, xã K, tỉnh Gia Lai là
người đã mất tích; buộc bà Trịnh Thị C phải chịu lệ phí giải quyết việc
dân sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA
TÒA ÁN:
Sau khi
nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại
phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa
án nhân dân khu vực 10 – Gia Lai nhận định:
[1] Về tố
tụng: Bà Trịnh Thị C
yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Tấn K – người có
nơi cư trú cuối cùng tại đội A, thôn E, xã K, tỉnh Gia Lai. Đây là vụ việc về
yêu cầu tuyên bố một người mất tích quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố
tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 Gia
Lai.
[2] Về
yêu cầu tuyên bố mất tích:
- [2.1] Bà Trịnh Thị C và ông Nguyễn Tấn
K là vợ chồng hợp pháp, vì vậy, bà C có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố mất
tích đối với ông Nguyễn Tấn K.
- [2.2] Các tài liệu, chứng cứ do đương
sự xuất trình và do Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ việc
thể hiện ông Nguyễn Tấn K bỏ đi biệt tích không có tin tức từ năm 2018,
nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích là tại Đ, thôn E, xã N, huyện Đ,
tỉnh Gia Lai (nay là đội A, thôn E, K, tỉnh Gia Lai). Từ khi ông K biệt
tích, bà Trịnh Thị C đã nhiều lần thông báo, tìm kiếm, nhưng không có
thông tin gì của ông K.
- Quá trình giải quyết, Tòa án
nhân dân khu vực 10 Gia Lai đã quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu
cầu tuyên bố mất tích đối với ông Nguyễn Tấn K, đăng thông tin tìm kiếm
trên B1 trong 03 số báo liên tiếp 104, 105, 106 ra các ngày 26-12-2025;
31-12-2025 và ngày 2-1-2026; trên Đ (V) các ngày 17, 18 và ngày 19 tháng
12 năm 2025; trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai
ngày 14 tháng 1 năm 2026, nhưng hết 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông
báo lần đầu tiên và tính từ năm 2018 đến thời điểm Tòa án mở phiên họp giải
quyết yêu cầu của bà C, vẫn không có tin tức xác thực về việc ông K còn sống
hay đã chết.
- Như vậy, Tòa án có cơ sở xác định
ông Nguyễn Tấn K biệt tích 2 năm liền trở lên, không có tin tức xác thực về
việc ông K còn sống hay đã chết. Do đó, việc bà C yêu cầu Tòa án giải quyết
tuyên bố ông K là người mất tích là có cơ sở, phù hợp với quy định về
tuyên bố một người mất tích tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự. Vì vậy,
yêu cầu của bà C được Tòa án chấp nhận.
[3] Về lệ
phí: Bà C là người
yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản
3 Điều 27, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149; Điều 367; Điều
370; Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân
sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án. Áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự;
1.
Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị C; tuyên bố ông Nguyễn Tấn K, sinh năm 1974, địa chỉ cư
trú trước khi biệt tích: Đội 1, thôn E, xã K, tỉnh Gia Lai là người đã mất
tích.
2.
Về lệ phí: Bà
Trịnh Thị C phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự; được
trừ vào 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai số 0005492 ngày 21
tháng 11 năm 2025; bà Trịnh Thị C đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
3.
Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, các đương sự có quyền kháng
cáo để yêu cầu giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền
kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền
kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai;
- VKS nhân dân Khu vực 10, tỉnh
Gia Lai;
- Uỷ ban nhân dân xã Kon Gang;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ việc dân sự.
THẨM PHÁN
- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
(Đã ký) Nguyễn Thành Long
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét