TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 18/2020/QĐST-DS | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Gò Vấp, ngày 21 tháng 01 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu
tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN
NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
- Thành phần giải quyết việc dân sự
gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hồng Cúc.
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thảo Vy là Thư
ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm
sát viên.
Ngày 21
tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí
Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số:
509/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2019, về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người
mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số
08/2020/QĐST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau
đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc
dân sự: Ông
Thái Trần Quốc T, sinh năm 1972; Địa chỉ: Đường Nguyễn K, Phường A, quận G
V, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên họp) .
NỘI DUNG
VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn
yêu cầu tuyên bố một người mất tích ghi ngày 26 tháng 8 năm 2019 và quá trình
giải quyết việc dân sự, ông Thái Trần Quốc T là người yêu cầu trình bày:
- Ông và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1966 chung sống từ năm 2009, tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy nhận kết hôn số 279/2011 ngày 16 tháng 11 năm 2011 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông và bà C chung sống tại nhà bà C địa chỉ đường Dương Quảng H, tổ 66, Phường B, quận G V, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến năm 2012 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nên từ năm 2013, ông không nhớ ngày tháng cụ thể, ông đã dọn về sinh sống tại đường Nguyễn K, Phường A, quận G V, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.
- Trong năm 2016, ông có nhiều lần đến nhà bà C nhưng không gặp được lần nào. Ông có hỏi hàng xóm của bà C được biết bà C đã bán nhà đi nơi khác, không rõ đi đâu, không có tin tức gì. Ông đã tìm mọi cách liên lạc với bà C nhưng không có kết quả. Nay, thời gian bà C bỏ đi đã lâu, tình cảm vợ chồng cũng không còn nên ông yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị C để ông làm thủ tục ly hôn.
Tại phiên họp:
Ông Thái Trần Quốc T vắng mặt, có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Đại diện
Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự yêu cầu
tuyên bố một người mất tích, do bà Nguyễn Thị C có hộ khẩu thường trú tại
quận Gò Vấp nên căn cứ Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm b Khoản 2 Điều 39 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp thụ lý giải quyết là
đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời
điểm mở phiên họp, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
- Về nội dung: Đã hết thời hạn bốn tháng kể từ
ngày đăng, phát thông báo đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về
việc bà Nguyễn Thị C còn sống hay đã chết. Do đó, theo đơn yêu cầu của ông
Thái Trần Quốc T yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị C mất tích là có cơ sở nên
đề nghị Tòa án chấp nhận.
- Về lệ phí: Lệ phí việc dân sự sơ thẩm, ông
Thái Trần Quốc T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN:
Sau khi
nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại
phiên họp; lời khai của đương sự và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên
họp, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm
quyền giải quyết: Căn cứ hồ sơ việc dân sự thể hiện ông Thái Trần Quốc T yêu cầu Tòa
án tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1966.
Theo kết quả xác minh của Công an Phường B, quận G V bà Nguyễn Thị C có hộ
khẩu thường trú tại địa chỉ đường Dương Quảng H, tổ 66, Phường B, quận GV,
Thành phố Hồ Chí Minh, đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2016, đi đâu
không rõ. Như vậy, có cơ sở xác định địa chỉ đường Dương Quảng H, tổ 66,
Phường B, quận G V, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú cuối cùng trước
khi biệt tích của bà Nguyễn Thị C. Căn cứ Khoản 3 Điều 27; Điểm a Khoản 2
Điều 35 và Điểm b Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây
là việc dân sự về yêu cầu tuyên bố một người mất tích, thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- [2] Về thủ tục tố tụng: Ông Thái Trần Quốc T có đơn yêu
cầu vắng mặt tại phiên họp nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết
việc dân sự vắng mặt ông theo quy định tại Khoản 2 Điều 367 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
- [3] Về yêu cầu của đương sự: Ông Thái Trần Quốc T yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với bà Nguyễn Thị C.
- Xét thấy, tại Đơn xin xác nhận ghi ngày 21/8/2019 do ông Thái Trần Quốc T cung cấp, Công an Phường B, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận bà Nguyễn Thị C sinh năm 1966 có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ đường Dương Quảng H, tổ 66, Phường B, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh, đã bán nhà đi khỏi địa phương từ năm 2016, đi đâu không rõ.
- Ngày 29/8/2019, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành
phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu
tuyên bố mất tích số 18/2019/QĐ-TA; thông báo tìm kiếm thông tin bà Nguyễn
Thị C đã được đăng trên Báo Công Lý, Cổng thông tin điện tử của Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đến nay, đã hết thời hạn 04
tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức của
bà Nguyễn Thị C. Như vậy, bà Nguyễn Thị C đã biệt tích hai năm liền trở
lên mà không có tin tức xác thực là còn sống hoặc đã chết và người yêu cầu
đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp
luật nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông Thái Trần Quốc T.
- [4] Về quan hệ nhân thân và quan hệ
tài sản của người bị tuyên bố mất tích được thực hiện theo quy định của
pháp luật.
- [5] Xét đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết việc dân sự là có cơ sở
nên chấp nhận.
- [6] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết
việc dân sự:
Người yêu cầu phải chịu theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 21, Khoản 3 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm b Khoản 2 Điều 39, Khoản 2 Điều 367, Điều 371, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Chấp nhận
yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Thái Trần Quốc T:
- Tuyên bố bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1966; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: đường Dương Quảng H, tổ 66, Phường B, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh mất tích.
2. Về quan hệ
nhân thân và quan hệ tài sản của người bị tuyên bố mất tích được thực hiện theo
quy định của pháp luật.
3. Lệ phí sơ
thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) do ông
Thái Trần Quốc T chịu, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba
trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số AA/2019/0001431 ngày 26 tháng 8 năm
2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông
Thái Trần Quốc T đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyền
kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng
cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án
ra quyết định. Trường hợp đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc
dân sự thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết
việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết theo quy định của
pháp luật.
THẨM PHÁN
Trần Thị Hồng
Cúc
CƠ SỞ PHÁP LÝ:
-Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015;
-Bộ luật Tố tụng dân sự:
- Điều 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
- Khoản 3 Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
- Điểm a Khoản 2 Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện 【Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi】
- Điểm b Khoản 2 Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
- Khoản 2 Điều 367. Những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự
Văn bản hướng dẫn :
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
=================================
NỘI DUNG ĐIỀU LUẬT ĐƯỢC ÁP DỤNG:
(nội dung)
=================================
LƯU Ý: Nội dung AI được biên tập bởi Luật gia Vlog NGUYỄN KIỆT, nhằm
mang đến cho độc giả NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ QUAN TRỌNG đã được áp dụng trên thực tế
khi xét xử...Mọi thắc mắc, chia sẻ, trao đổi mang tính học thuật hoặc cần HỖ TRỢ TƯ VẤN PHÁP LUẬT MIỄN PHÍ. Vui lòng liên hệ số
di động ZALO của KÊNH. Trân trọng!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét