Về số tiền nộp khắc phục khắc quả: Đến nay, các bị can và người liên quan đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả thiệt hại tổng số tiền là 195.297.700.973 đồng, trong đó:
- Trịnh Văn Quyết nộp 189.572.240.000 đồng;
- Nguyễn Thiện Phú nộp 260.568.000 đồng;
- Nguyễn Thanh Bình nộp 2.651.367.973 đồng;
- Trần Thế Anh nộp 1.100.000.000 đồng;
- Nguyễn Thị Hồng Dung nộp 70 triệu đồng;
- Đỗ Thị Huyền Trang nộp 54 triệu đồng;
- Hoàng Thị Huệ nộp 48 triệu đồng;
- Nguyễn Thị Nga nộp 108 triệu đồng;
- Trịnh Thị Thanh Huyền nộp 160 triệu đồng;
- Lê Thành Vinh nộp 596.525.000 đồng;
- Đặng Thị Hồng nộp 30 triệu đồng;
- Nguyễn Văn Thanh nộp 25 triệu đồng;
- Trịnh Thị Út Xuân, Trương Văn Tài,
- Phạm Thanh Hương nộp 20 triệu đồng,
- Đàm Quang Cường nộp 42 triệu đồng,
- Phạm Thị Hải Ninh nộp 20 triệu đồng,
- Nguyễn Bình Phương nộp 30 triệu đồng,
- Đỗ Quang Lâm nộp 30 triệu đồng,
- Trịnh Thị Thuý Nga nộp 100 triệu đồng,
- Nguyễn Văn Mạnh nộp 20 triệu đồng,
- Trịnh Thị Minh Huế nộp 100 triệu đồng,
- Lê Tân Sơn nộp 20 triệu đồng,
- Hương Trần Kiều Dung nộp 200 triệu đồng.
* Tại Cáo trạng số 2950/CT-VKSTC-V5 ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như sau:
- Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thúy Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Thao túng thị trường chứng khoán”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự;
- Đỗ Như Tuấn, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Văn Thanh, Đàm Mai Hương, Nguyễn Bình Phương, Hoàng Thị Thụ Hà, Nguyễn Tiến Dũng, Lê Thành Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Lê Tân Sơn, Trần Thế Anh, Đặng Thị Hồng, Lê Văn Sắc, Trương Văn Tài, Nguyễn Minh Điểm, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thanh Hương, Phạm Thị Hải Ninh, Nguyễn Thiện Phú, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Lê Văn Tuấn, Trần Thị Hạnh về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự;
- Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, quy định tại Khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự;
- Nguyễn Quỳnh Anh, Chu Tiến Vượng, Nguyễn Thị Thanh Phương, Bùi Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Thơm, Quách Thị Xuân Thu, Trần Thị Lan, Trịnh Văn Nam, Trịnh Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Đỗ Thị Huyền Trang, Nguyễn Quang Trung về tội “Thao túng thị trường chứng khoán”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự;
- Lê Công Điền, Dương Văn Thanh, Phạm Trung Minh về tội “Cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán”, quy định tại điểm c khoản 2 Điểu 209 Bộ luật Hình sự;
* Tại phiên tòa:
- Cả 50 bị cáo: Đều công nhận đã thực hiện các hành vi như Cáo trạng nêu, không có ý kiến gì về tội danh bị truy tố, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân, bối cảnh thực hiện hành vi phạm tội, vị trí vai trò, ý thức chủ quan của mình khi thực hiện hành vi phạm tội để giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
- Các bị hại có ý kiến như sau: Một số bị hại có ý kiến đề nghị xem xét buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, đề nghị xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật. Một số bị hại khác có ý kiến đề nghị tạo điều kiện cho các bị cáo khắc phục hậu quả vụ án, sớm trở về với gia đình và xã hội.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến:
- Một số nhà đầu tư đã mua và hiện đang nắm giữ cổ phiếu ROS, đề nghị xác định mình là bị hại trong vụ án và buộc các bị cáo phải bồi thường cho các nhà đầu tư thiệt hại phát sinh do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hỗ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên toà đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:
-Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo phạm tội như sau:
- + Trịnh Văn Quyết, Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thúy Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, NguyễnVăn Mạnh, Trịnh Tuân, Nguyễn Thị Hồng Dung phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Thao túng thị trường chúng khoán”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự;
- + Đỗ Như Tuấn, Đỗ Quang Lâm, Nguyễn Văn Thanh, Đàm Mai Hương, Nguyễn Bình Phương, Hoàng Thị Thu Hà, Nguyễn Tiến Dũng, Lê Thành Vinh, Nguyễn Thanh Bình, Lê Tân Sơn, Trần Thế Anh, Đặng Thị Hồng, Lê Văn Sắc, Trương Văn Tài, Nguyễn Minh Điểm, Trịnh Thị Út Xuân, Phạm Thanh Hương, Phạm Thị Hải Ninh, Nguyễn Thiện Phú, Nguyễn Ngọc Tinh, Lê Văn Tuấn, Trần Thị Hạnh phạm tội “Lừa đảo chiểm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự;
- + Trần Đắc Sinh, Lê Hải Trà, Trầm Tuấn Vũ, Lê Thị Tuyết Hằng phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, quy định tại Khoản 3 Điều 356 Bộ luật Hình sự;
- + Nguyễn Quỳnh Anh, Chu Tiến Vượng, Nguyễn Thị Thanh Phương, Bùi Ngọc Tú, Nguyễn Thị Thu Thơm, Quách Thị Xuân Thu, Trần Thị Lan, Trịnh Văn Nam, Trịnh Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Đỗ Thị Huyền Trang, Nguyễn Quang Trung phạm tội “Thao túng thị trường chứng khoán”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 211 Bộ luật Hình sự;
- + Lê Công Điền, Dương Văn Thanh, Phạm Trung Minh phạm tội “Cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 209 Bộ luật Hình sự.
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với các bị cáo:
(1) Áp dụng: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 211; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 41, 55 và 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo
- Trịnh Văn Quyết,
- Trịnh Trịnh Minh Huế,
- Trịnh Thị Thuý Nga,
- Hương Trần Kiều Dung,
- Trịnh Văn Đại,
- Nguyễn Thị Hồng Dung,
- Trịnh Tuân, Nguyễn Văn Mạnh.
- Áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Trịnh Văn Quyết, Trịnh Văn Đại, Hương Trần Kiều Dung.
- Đề nghi xử phạt:
- Trịnh Văn Quyết đề nghị tuyên phạt 19 đến 20 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 05 đến 06 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 24 đến 26 năm tù;
- Trịnh Thị Minh Huế đề nghị tuyên phạt 13 đến 14 năm tù về tội Lửa đảo chiếm đoạt tài sản, từ 04 năm đến 05 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 17 năm đến 19 năm tù;
- Trịnh Văn Đại đề nghị tuyên phạt 12 đến 13 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 02 năm đến 03 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 14 năm đến 16 năm tù;
- Hương Trần Kiều Dung đề nghị tuyên phạt 07 năm đến 08 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 04 năm đến 05 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 11 năm đến 13 năm tù;
- Trịnh Thị Thuý Nga, đề nghị tuyên phạt 7 đến 8 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 03 năm đến 04 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 10 đến 12 năm tù;
- Nguyễn Văn Mạnh đề nghị tuyên phạt 05 năm đến 06 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 02 năm đến 03 năm tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 7 năm đến 9 năm tù;
- Nguyễn Thị Hồng Dung đề nghị tuyên phạt 3 năm đến 4 năm tù về tội Lửa đảo chiếm đoạt tài sản, 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 05 đến 06 năm 6 tháng tù;
- Trịnh Tuân đề nghị tuyên phạt 04 năm đến 05 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù về tội Thao túng thị trường chứng khoán, tổng hợp hình phạt là từ 06 đến 07 năm 6 tháng tù;
(2) Áp dụng: điểm a khoản 4, 5 Điều 174; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 41, 54, 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (riêng bị cáo Lê Văn Tuấn không được đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
- Áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
- Nguyễn Văn Thanh,
- Như Tuấn,
- Trần Thị Hạnh,
- Thế Anh,
- Hải Ninh,
- Út Xuân;
- thêm điểm x, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn Sắc;
Đề nghi xử phạt:
- - Hoàng Thị Thu Hà đề nghị tuyên phạt từ 10 đến 11 năm tù;
- - Đỗ Như Tuấn đề nghị tuyên phạt từ 08 năm đến 09 năm tù;
- - Nguyễn Văn Thanh đề nghị tuyên phạt từ 08 năm đến 09 năm tù;
- - Đỗ Quang Lâm đề nghị tuyên phạt từ 08 năm đến 09 năm tù;
- - Nguyễn Thanh Bình đề nghị tuyên phạt từ 08 năm đến 09 năm tù;
- - Nguyễn Ngọc Tỉnh đề nghị tuyên phạt từ 07 đến 08 năm tù;
- - Nguyễn Bình Phương đề nghị tuyên phạt từ 07 năm đến 08 năm tù;
- - Trần Thị Hạnh đề nghị tuyên phạt từ 06 năm đến 07 năm tù;
- - Nguyễn Tiến Dũng đề nghị tuyên phạt từ 06 năm đến 07 năm tù;
- - Nguyễn Thiện Phú đề nghị tuyên phạt từ 06 đến 07 năm tù;
- - Lê Thành Vinh đề nghị tuyên phạt từ 04 đến 05 năm tù;
- - Đàm Mai Hương đề nghị tuyên phạt từ 04 đến 05 năm tù;
- - Trần Thế Anh đề nghị tuyên phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
- - Lê Tân Sơn đề nghị tuyên phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
- - Đặng Thị Hồng đề nghị tuyên phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
- - Phạm Thị Hải Ninh đề nghị tuyên phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
- - Trịnh Thị Út Xuân đề nghị tuyên phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
- - Phạm Thanh Hương đề nghị tuyên phạt từ 03 năm đến 04 năm tù;
- - Lê Văn Sắc đề nghị tuyên phạt từ 30 đến 36 tháng tù;
- - Trương Văn Tài đề nghị tuyên phạt từ 30 đến 36 tháng tù;
- - Nguyễn Minh Điểm đề nghị tuyên phạt từ 24 đến 30 tháng tù;
- - Lê Văn Tuấn đề nghị tuyên phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.
(3) Áp dụng: điểm khoản 3 Điều 356; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
- Trần Đắc Sinh,
- Lê Hải Trà,
- Trầm Tuấn Vũ,
- Lê Thị Tuyết Hằng;
- Áp dụng thêm điểm t, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đổi với bị cáo Trà; điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hằng;
Đề nghị xử phạt:
- Trần Đắc Sinh đề nghị tuyên phạt từ 08 năm đến 09 năm tù;
- Lê Hải Trà đề nghị tuyên phạt từ 06 năm đến 07 năm tù;
- Trầm Tuấn Vũ đề nghị tuyên phạt từ 06 năm đến 07 năm tù;
- Lê Thị Tuyết Hằng đề nghị tuyên phạt từ 03 đến 04 năm tù.
(4) Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 211; điểm s khoản 1, khoàn Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 41, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo phạm tội Thao túng thị trường chứng khoán;
Áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo
- Nguyễn Thị Thu Thom,
- Nguyễn Quang Trung;
- thêm điểm b, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Nga, Hoàng Thị Huệ, Trịnh Văn Nam; thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự với bị cáo Trịnh Thị Thanh Huyền;
Đề nghi xử phat:
- - Nguyễn Quỳnh Anh đề nghị tuyên phạt từ 04 đến 05 năm tù;
- - Chu Tiến Vượng đề nghị tuyên phạt từ 03 đến 04 năm tù;
- Nguyễn Thị Thanh Phương đề nghị tuyên phạt từ 30 đến 36 tháng tù;
- Nguyễn Thị Thu Thơm đề nghị tuyên phạt từ 30 đến 36 tháng tù;
- - Bùi Ngọc Tú đề nghị tuyên phạt từ 30 đến 36 tháng tù;
- - Quách Thị Xuân Thu đề nghị tuyên phạt từ 24 đến 30 tháng tù;
- - Trần Thị Lan đề nghị tuyên phạt từ 24 đến 30 tháng tù;
- - Đỗ Thị Huyền Trang đề nghị tuyên phạt từ 18 đến 24 tháng tù;
- - Nguyễn Thị Nga đề nghị tuyên phạt từ 18 đến 24 tháng tù;
- - Hoàng Thị Huệ đề nghị tuyên phạt từ 18 đến 24 tháng tù;
- - Trịnh Văn Nam đề nghị tuyên phạt từ 18 đến 24 tháng tù;
- - Trịnh Thị Thanh Huyền đề nghị tuyên phạt từ 18 đến 24 tháng tù;
- - Nguyễn Quang Trung đề nghị tuyên phạt từ 18 đến 24 tháng tù.
(5) Áp dụng: điểm c khoản 2, 3 Điều 209; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 41 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Công Điền, Dương Văn Thanh, Phạm Trung Minh;
Đề nghi xử phạt:
- - Lê Công Điền đề nghị tuyên phạt từ 36 đến 42 tháng tù;
- - Dương Văn Thanh đề nghị tuyên phạt từ 24 đến 30 tháng tù;
- - Phạm Trung Minh đề nghị tuyên phạt từ 18 đến 24 tháng tù;
- Cấm các bị cáo phạm tội về Thao túng thị trường chúng khoán, Cố ý công bố thông tin sai lệch về chứng khoán, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ hành nghề trong lĩnh vực chứng khoán từ 3-5 năm.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết buộc bị cáo Trịnh Văn Quyết phải chịu trách nhiệm chính; các bị cáo Trịnh Thị Minh Huế, Trịnh Thị Thuý Nga, Hương Trần Kiều Dung, Trịnh Văn Đại, Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Thu Hà phải liên đới bồi thường cho các bị hại theo quy định của pháp luật.
-Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo thu lợi bất chính. Tiếp tục duy trì các tài sản, đồ vật bị kê biên, phong toả, tạm giữ trong quá trình điều tra để đảm bảo thi hành án.
* Những người bào chữa cho các bị cáo: Đều không có ý kiến tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đánh giá nguyên nhân, bối cảnh phạm tội, vị trí, vai trò của mỗi bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm cơ sở giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo Trịnh Văn Quyết và một số luật sư khác có ý kiến đề nghị xem xét xác định lại về số bị hại, số tiền các bị cáo chiếm đoạt; một số luật sư đề nghị xem xét ý thức chủ quan của nhóm các bị cáo ký các chứng từ tăng vốn, uỷ thác đầu tư, xác định họ có đồng phạm với Trịnh Văn Quyết hay không; Xem xét về thời điểm chịu trách nhiệm hình sự của các bị cáo phạm tội Thao túng thị trường chứng khoán, đối với mã chứng khoán HAI.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét