NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, ngày 08/10/2025 nộp trong thời hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Bà Nguyễn Thị Thu T đại diện cho bà Nguyễn Hồng C kháng cáo yêu cầu ông Q trả lại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính và đồng ý trả ông Q 150.000.000 đồng tiền vay thực nhận cùng tiền lãi theo quy định. Xét thấy, bà T nhận bản án ngày 15/10/2025 nhưng 27/2/2026 mới nộp đơn kháng cáo tại Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh (sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm). Bà cho rằng trước đó bà có nộp đơn tại Toà án nhân dân khu vực 3 và Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh nhưng không có chứng cứ chứng minh về việc nộp đơn kháng cáo nhưng không được nhận. Do đó kháng cáo của bà T đại diện cho bà C không được xem xét.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn, những người có quyền nghĩa vụ liên quan khác đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông L:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 đại diện cho ông L yêu cầu bồi thường 1.128.692.000 đồng (bao gồm cả thửa đất 891). Ông T1 cung cấp Hợp đồng uỷ quyền lại ngày 09/5/2024 tại Văn phòng C2 (Số C, quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD) giữa bên uỷ quyền Nguyễn Hồng C, người đại diện là Tô Thanh Q, bên uỷ quyền là ông Nguyễn Văn L, đối tượng uỷ quyền là thửa đất số 891, tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện Đ, nội dung uỷ quyền là toàn bộ các quyền của người sử dụng đất. Ông T1 cho rằng, ông Q đã chuyển nhượng cho ông L 3 thửa đất và uỷ quyền cho ông L 01 thửa đất của bà C. Do đó, yêu cầu cấp phúc thẩm buộc ông Q, bà C liên đới bồi thường giá trị 4 thửa đất là 1.128.629.000 đồng theo giá trị thẩm định giá. Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm ông T1 đại diện cho ông L yêu cầu bồi thường số tiền 902.260.000 đồng theo chứng thư thẩm định giá (không bao gồm thửa 891). Tại phiên toà phúc thẩm, ông T1 lại yêu cầu bồi thường 1.128.629.000 đồng (giá trị của 4 thửa đất). Yêu cầu của ông T1 vượt quá yêu cầu ban đầu tại cấp sơ thẩm nên không được xem xét tại cấp phúc thẩm đối với giá trị thửa đất 891.
[2.2] Ông T1 còn cho rằng hiện ông L không giữ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất (890, 70, 71). Hiện các giấy chứng nhận này do ông Nguyễn Văn V (không rõ địa chỉ), là người môi giới bán đất cho ông L đang giữ nên đề nghị huỷ án sơ thẩm do thiếu người tham gia tố tụng. Xét thấy, tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm thể hiện lời trình bày của ông T1, xác nhận ông L là người đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không cầm cố, thế chấp và đồng ý trả lại khi phía ông Q, bà C trả tiền. Ông T1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh hiện ông V đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có căn cứ xem xét.
[2.3] Xét thấy, Hợp đồng hợp đồng ủy quyền quyền sử dụng đất giữa bà C với ông Q công chứng số 910, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/3/2024 tại Văn phòng C2; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1890, quyển số 05/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/5/2024 tại Văn phòng C2 giữa bà Nguyễn Hồng C do ông Tô Thanh Q đại diện với ông Nguyễn Văn L đối với thửa đất số 890, thửa đất 70 và thửa đất số 71, cùng tờ bản đồ số 26, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh) được cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu. Các bên không tranh chấp nên không đề cập.
- Về số tiền bồi thường: Ông L yêu cầu buộc bà Nguyễn Hồng C và ông Tô Thanh Q phải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông L số tiền 902.260.000 đồng tương đương giá trị của 03 thửa đất 890, 70, 71 theo Chứng thư thẩm định giá số 020/2025/208- HD/TĐG LA-BĐS ngày 20/6/2025 của Công ty cổ phần T3.
- Cấp sơ thẩm xác định thiệt hại của ông L là chênh lệch giá tại thời điểm chuyển nhượng với thời điểm giải quyết tranh chấp là 902.260.000 đồng - 400.000.000 đồng = 502.260.000 đồng là không phù hợp. Ông L không được nhận tài sản trong vụ án này nên thiệt hại phải được xác định là toàn bộ giá trị thửa đất. Do ông Tô Thanh Q và bà Nguyễn Hồng C cùng có lỗi dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu nên phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn L theo định tại Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015. Bà Nguyễn Hồng C cũng có một phần lỗi nên cũng phải chịu trách nhiệm liên đới cùng với ông Q bồi thường cho ông L. Bà C vay tiền nhưng lại ký hợp đồng uỷ quyền dẫn đến việc ông L lầm tưởng ông Q có quyền ký hợp đồng chuyển nhượng. Do đó lỗi của các bên là ngang nhau nên phải liên đới bồi thường thiệt hại cho ông L 902.260.000 đồng là phù hợp.
[3] Từ những phân tích trên, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ chưa khách quan và toàn diện; kháng cáo của ông Nguyễn Văn L là có cơ sở nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần. Không chấp nhận yêu cầu của ông L về việc bồi thường giá trị thửa đất 891, tờ bản đồ số 26; Không chấp nhận yêu cầu huỷ án sơ thẩm của ông L.
[4] Tại phiên tòa ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về đề nghị Hội đồng xét xử, sửa án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tô Thanh Q và bà Nguyễn Hồng C phải liên đới nộp án phí DSST đối với số tiền 902.260.000 đồng phải trả cho ông L.
[6] Chi phí đăng tin: Ông Nguyễn Văn L là người kháng cáo phải chịu chi phí đăng tin.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm:
- Án phí phúc thẩm dân sự: do kháng cáo của ông Nguyễn Văn L được chấp nhận một phần nên ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét