NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trương Thị Ngọc Đ kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- [2] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Nguyên H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó HĐXX giải quyết vụ án vắng mặt đương sự.
- [3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị Ngọc Đ, HĐXX nhận thấy: Tranh chấp giữa các bên đương sự là về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C ký ngày 22/8/2017 giữa bà Trương Thị Ngọc Đ với bà Nguyễn Thị T3 đối với thửa đất số 189, tờ bản đồ số 02, số Giấy chứng nhận AN 691373 do UBND huyện T (Cũ) cấp ngày 04/5/2009, tại khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (Nay là thôn P, xã P, tỉnh Lâm Đồng).
- [4] Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trương Thị Ngọc Đ đều thừa nhận đã bị vỡ nợ tiền huê, tiền hụi từ trước tháng 6/2017. Từ cuối năm 2017 và năm 2018 Toà án nhân dân khu vực 14 - Lâm Đồng đã ban hành các Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các nguyên đơn với bị đơn vợ chồng bà Đ, ông Q về việc trả nợ tiền huê, tiền hụi. Tại các hồ sơ công nhận thỏa thuận này đều thể hiện nội dung bà Đ, ông Q phát sinh nợ có nghĩa vụ phải trả tiền hụi, huê từ trước tháng 6/2017. Mặc dù việc tặng cho tài sản diễn ra trước khi có các quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án nhưng bà Đ đã biết được mình chỉ có tài sản duy nhất là thửa đất số 189 và phải có nghĩa vụ trả nợ tiền huê cho các chủ nợ. Việc tặng cho tài sản duy nhất này cho bà T3 sẽ dẫn đến việc không thể trả được nợ cho các nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn xin trả nợ cho nguyên đơn hàng tháng nhưng trình bày này không có căn cứ vì Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 - Lâm Đồng đã xác định bà Đ không có đủ điều kiện thi hành án.
- [5] Như vậy, bà Đ biết được mình phải có nghĩa vụ trả nợ cho các nguyên đơn nhưng vẫn thực hiện việc tặng cho tài sản và việc tặng cho này không phải để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các nguyên đơn, trong khi đó bà Đ vẫn đang sử dụng đất. Việc bà Đ trình bày do anh, em trong nhà tranh chấp nên cho lại mẹ nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Do đó Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vào ngày 22/8/2017 giữa bà Trương Thị Ngọc Đ với bà Nguyễn Thị T3 đối với thửa đất số 189, tờ bản đồ số 02, số Giấy chứng nhận AN 691373 do UBND huyện T cấp ngày 04/5/2009 là nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với những người chơi hụi theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 14 - Lâm Đồng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu đối với Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở giữa bà Trương Thị Ngọc Đ với bà Nguyễn Thị T3 được công chứng tại Văn phòng C ký ngày 22/8/2017 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T (Nay là Chi nhánh Văn phòng Đ) đăng ký biến động theo hồ sơ 23002.TA.000613 ngày 28/8/2017 là hoàn toàn có căn cứ.
- [6] Qua hồ sơ vụ án, xem xét toàn bộ quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, người kháng cáo không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo do đó yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị Ngọc Đ là không có cơ sở chấp nhận. HĐXX giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- [7] Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập. Các bên đương sự căn cứ vào nội dung, quyết định của bản án để đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện xóa cập nhật sang tên cho bà Nguyễn Thị T3 đối với thửa đất nêu trên. Kiến nghị Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện hủy bỏ việc cập nhật biến động cho bà Nguyễn Thị T3.
- [8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- [9] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét