NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  • [1] Kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn và thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  • [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp dân sự giữa các đương sự, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền làm hư hỏng tài sản (cầu ao)đòi lại tiền đầu tư chung vào ao thả cá nên việc cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp về việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và đòi tài sản để xem xét giải quyết là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và đúng thẩm quyền giải quyết vụ án của TAND khu vực 12 Hải Phòng. Do vụ án có kháng cáo của nguyên đơn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Xét kháng cáo của nguyên đơn, với các nội dung: Đề nghị HĐXX hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa đưa bà H (vợ ông T) tham gia tố tụng; có thiếu sót nghiêm trọng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, chưa đảm bảo quy trình tố tụng khách quan theo đúng quy định của pháp luật; Xét đối với những căn cứ, lý lẽ nguyên đơn đã trình bày tại đơn kháng cáo, các đơn trình bày làm rõ nội dung kháng cáo gửi Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và việc hỏi làm rõ tại phiên tòa. HĐXX thấy rằng:

  • [3] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Tòa án cấp sơ thẩm xác minh, thu thập trong hồ sơ vụ án và trình bày của nguyên đơn tại đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa cho rằng có việc Tòa án cấp sơ thẩm có thiếu sót nghiêm trọng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, chưa đảm bảo quy trình tố tụng khách quan theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng các hoạt động tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án là đảm bảo đúng trình tự quy định của pháp luật.
  • [4] Đối với bà Trần Thị H (vợ ông T) đã có lời khai xác định toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của ông T không liên quan đến quyền lợi của bà, đều là tiền riêng của ông T bỏ ra để làm cầu ao, đầu tư chung ao không liên quan đến bà và đề nghị không đưa bà tham gia tư cách tố tụng trong vụ án ông T khởi kiện đối với ông N (BL: 144). Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ đưa bà H tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người làm chứng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
  • [5] Do đó, HĐXX thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Vũ Xuân N phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn T số tiền làm hư hỏng tài sản (cầu ao) là 650.000 đồng; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T buộc ông N phải trả 2.350.000 đồng tiền thả cá, 1.100.000 đồng tiền thuê vớt bèo ao cá, 250.000 đồng tiền mua chung thuyền sắt và 500.000 đồng tiền công hoàn thành cầu ao sau khi bị phá hỏng. HĐXX thấy rằng:

  • [6] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán phần thiệt hại cầu ao của ông T bị hư hỏng và số tiền 500.000 đồng nguyên đơn đã bỏ ra để sửa chữa hoàn thiện cầu ao sau khi cầu ao bị ông N di chuyển làm hư hại. Căn cứ vào lời trình bày và xác thực của nguyên đơn, bị đơn và kết quả xác minh tài liệu liên quan tại Công an huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là thành phố Hải Phòng) thì thấy rằng, tại Thông báo số: 2793/TB-ĐTTH ngày 26/11/2024 của Công an huyện C (BL: 86) xác định: “... ngày 14/01/2024 ông N có hành vi tự ý dùng búa cầm tay đập, phá làm hư hỏng cầu ao gỗ của gia đình ông T, là hành vi vi phạm hành chính...”; Bản kết luận định giá tài sản số: 45/KL-HĐĐG-HTHS ngày 27/8/2024 của UBND huyện C (BL: 15 đến 16) kết luận: Phần hư hỏng của 01 cầu ao bằng gỗ Lim Nam Phi, đã qua sử dụng: Phần thiệt hại có giá trị là 650.000 đồng.

Hội đồng xét xử thấy rằng, ông N thừa nhận có việc ông tự ý di dời cầu ao do ông T xây dựng khoảng năm 2021 trên ao cá của địa phương (do ông có hợp đồng thuê của địa phương vào năm 2015) sang vị trí khác, việc di dời cầu ao không có sự đồng ý của ông T, hậu quả đã làm ông T bị thiệt hại đối với cầu ao là 650.000 đồng như kết luận định giá tài sản được cơ quan Công an tiến hành theo đúng trình tự pháp luật; Hành vi của ông N là hành vi vi phạm hành chính và đây là phần thiệt hại dân sự có thật của ông T, ông N có lỗi hoàn toàn nên có nghĩa vụ bồi thường cho ông T 650.000 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm quyết định là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

Sau khi cơ quan công an đã xác định phần thiệt hại của cầu ao, ông T cho rằng cần phải bỏ ra thêm 500.000 đồng để sửa chữa hoàn thành cầu ao nhưng ông T không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh chi phí về việc sửa chữa cầu ao, hơn nữa thiệt hại thực tế về việc ông N tự ý di dời cầu ao của ông T ra vị trí khác tại ao thả cá đã được Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông N có nghĩa vụ bồi thường. Hơn nữa cũng cần xem xét đến thực tế tại phiên tòa phúc thẩm chính ông T cũng đã thừa nhận việc ông T đặt cầu ao trên ao thuộc quyền quản lý của địa phương vào khoảng năm 2021 để gia đình ông phục vụ việc sinh hoạt hàng ngày nhưng không có việc xin phép chính quyền địa phương hay báo cáo với đại diện khu dân cư nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường này của ông T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

  • [7] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, buộc ông N phải trả 2.350.000 đồng thả cá chung, 1.100.000 đồng thuê người vớt bèo ao cá thả chung, 250.000 đồng tiền mua chung thuyền sắt (tổng = 3.700.000 đồng). HĐXX thấy rằng: Hiện ông N không thừa nhận có các khoản chi phí nêu trên của ông T, không có việc ông N cho ông T chung ao thả cá đối với diện tích ao cá gia đình ông N đã hợp đồng thuê của thôn vào năm 2015 (BL: 128). Ông T là người khởi kiện đối với các khoản tiền nêu trên nhưng tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không đưa ra được tài liệu, chứng cứ, người làm chứng để chứng minh lời trình bày của ông T là có việc ông N cho ông T chung thả cá trên diện tích ao ông N có hợp đồng thuê của thôn năm 2015, không chứng minh được việc ông T và ông N có thỏa thuận mua cá thả chung vào ao với số tiền 2.350.000 đồng, tiền chi thuê người vớt bèo ao thả cá 1.100.000 đồng và tiền mua chung thuyền sắt 250.000 đồng.

Thực tế tại các lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm chính ông T cũng thừa nhận ông N là người có hợp đồng thuê ao thả cá với thôn vào năm 2015, đến năm 2023 đã bị UBND xã chấm dứt hợp đồng do hết hạn thuê ao (BL: 76), việc thả cá và đầu tư chung ao giữa hai bên chỉ bằng miệng sau khi hợp đồng thuê ao của ông N với địa phương đã hết hạn ; hai bên đều xác định sự việc từ khi thả cá đến nay ông N cũng chưa có lần nào tát ao (thu hoạch cá). Từ những căn cứ, nhận định nêu trên, HĐXX thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận đối với các yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  • [8] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • [9] Về án phí phúc thẩm dân sự: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên theo quy định nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng do nguyên đơn là người cao tuổi và đề nghị được miễn án phí nên được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét