NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Căn cứ theo Thông báo kết luận nội dung tố cáo số: 2793/TB-ĐTTH ngày 26/11/2024 của Công an huyện C, tỉnh Hải Dương và Bản kết luận định giá tài sản số: 45/KL-HĐĐG-TTHS ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Hải Dương:
- Yêu cầu Toà án buộc ông N phải bồi thường cho ông T 650.000 đồng tiền ông N làm hư hỏng cầu ao (ông T để ở thửa đất số 242, đất nhà ông T);
- yêu cầu ông Vũ Xuân N phải bồi thường cho ông T số tiền mà ông N và ông T thuê người vớt bèo và mua cá giống thả chung vào tháng 4/2021, thả vào ao thửa đất số 242 tờ bản đồ số 24 diện tích 1260m². Nhưng ông Vũ Xuân N lại tự ý một mình thu cá gây thiệt hại phải bồi thường ông T 3.700.000 đồng tiền cá, 1.100.000 đồng tiền vớt bèo để thả cá.
Ngày
18/11/2025 ông T tự nguyện rút yêu cầu ông N phải trả là 1.100.000 đồng; mà chỉ
yêu cầu ông N phải trả 650.000 đồng tiền làm hư hỏng cầu ao, 1.100.000 đồng tiền
thuê vớt bèo, 2.350.000 đồng tiền mua cá giống và 250.000 đồng tiền mua chung
thuyền sắt. Tổng là 4.350.000 đồng, đây là tiền riêng của ông, vợ ông không
liên quan và ông yêu cầu riêng ông N phải trả vì mọi việc ông và ông N làm
riêng. Ông xác định từ khi thả cá chung đến nay chưa ai tát ao hay bắt cá lần
nào.
Tại các biên bản lấy lời khai và các đơn trình bày của bị đơn (ông Vũ Xuân N) thể hiện:
- Ao xóm trạm bơm thuộc thửa đất số 242, tờ bản đồ số 24 thôn L, xã C, thành phố Hải Phòng là do ông quản lý từ ngày 15/6/2015, ông đấu thầu của thôn L, xã L, huyện C (có đủ giấy tờ). Từ năm 2015 ông thả khoảng 500 kg cá giống, mua của những ai ông không còn nhớ; tiền đấu ao và thả cá là của riêng ông, vợ ông không liên quan gì. Từ năm 2015 đến nay ông chưa thu hoạch; thi thoảng ông bắt một vài con để sinh hoạt; năm 2024 lũ to cá bơi đi mất, nên ông đã thả thêm khoảng 200 kg cá giống, thả nhiều lần, mua của ai ông không nhớ.
- Về các yêu cầu khởi kiện của ông T, quan điểm của ông N là: Ao cá do một mình ông đấu thầu, tự ông thả cá không chung với ai, không bảo ai thả cá và cũng không bảo ai vớt bèo, ông cũng không nhận 250.000 đồng mua chung thuyền sắt với ông T; còn cầu ao của ông T ông rút ra và đặt lại cách đó 05m không làm hư hỏng gì, sau đó đùn bèo, rêu để không bị câu cá trộm. Vì vậy, ông không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà L) trình bày:
- Bà L và ông N có đứng tên đấu thầu ao tại thôn L, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là xã C, thành phố Hải Phòng) vào năm 2015. Tuy nhiên sau khi nhận ao, bà L không tham gia vào việc kinh doanh, sử dụng ao cá cùng chồng, bà đi làm Công ty không quan tâm đến việc đấu thầu ao.
Người làm chứng
trình bày:
- Ông Nguyễn Văn L1 xác nhận: Việc ông Nguyễn Văn T và ông Vũ
Xuân N nói mồm với nhau về việc chung thầu ao thế nào ông không được chứng
kiến. Hợp đồng đấu thầu ao chỉ đứng tên ông N và L. Năm 2023 ông T nhờ tôi
viết mấy dòng: “xác nhận năm 2014 ông T đấu thầu chung ao với ông N”. Thực
tế ông không biết việc ông T và ông N thoả thuận thế nào, vì nể ông T và
nhận thức kém nên đã xác nhận.
- Ông Nguyễn Tuấn C1 xác nhận: Tháng 4/2021 và tháng 8/2021,
hai lần bán cá cho ông T, thả cá tại cầu ao trước cửa nhà ông T; ông T trực
tiếp trả ông 2.350.000 đồng và ông N trả ông 2.350.000 đồng. Sau đó ông
khai lại: Ông chỉ biết ông N hỏi mua cá, không biết ông T. Khoảng năm 2021
ông N cho địa chỉ bảo thả cá xuống ao cho ông N; ông đến thì gặp ông T,
ông T cân cá và kể chuyện chung ao với ông N (ông không quan tâm). Ông bán
hai đợt, ông T trả tiền một nửa, ông N trả tiền sau một nửa ông không nhớ
số tiền bán hai đợt là bao nhiêu. Cách đây khoảng 01 tháng ông T nhờ ông
xác nhận cho xong việc, ông không xem nội dung nên không nhớ.
- Ông Hà Văn D xác nhận: Tháng 4/2021 ông N gọi điện nhờ
ông vớt bèo ao khu 242 trước cửa nhà ông T. Vớt bèo xong ông T trực tiếp
trả ông 1.100.000 đồng còn thiếu tiền, ông gọi điện cho ông N bảo khi nào
gặp sẽ trả nốt; ông đã nhận đủ 2.200.000 đồng. Ông không biết việc chung
ao và thoả thuận thuê vớt bèo thế nào.
- Bà Trần Thị H trình bày: Bà H là vợ ông Nguyễn Văn T, chồng
bà tự chi toàn bộ tiền mua cá giống, vớt bèo, mua thuyền sắt kể cả cầu ao.
Tổng 4.350.000 đồng là tiền riêng của chồng bà.
Toà án xem
xét, thẩm định tại chỗ chiếc cầu ao tình trạng hiện đã hư hỏng nhiều hơn khi xảy
ra tranh chấp, nay đang do ông T quản lý; các đương sự nhất trí thiệt hại như
giá Hội đồng định giá trong tố tụng của UBND huyện C định giá là 650.000 đồng.
Bản án dân sự
sơ thẩm số 03/2026/DS-ST ngày 03/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực 12 Hải Phòng,
đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, buộc ông Vũ Xuân N phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn
T số tiền làm hư hỏng tài sản (cầu ao) là 650.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông T buộc ông N phải trả 2.350.000 đồng tiền thả cá, 1.100.000 đồng
thuê vớt bèo ao cá, 250.000 đồng mua chung thuyền sắt và 500.000 đồng công
hoàn thành cầu ao sau khi bị phá hỏng.
Sau khi xét
xử sơ thẩm: Ngày 03/02/2026, ông T có đơn kháng cáo không nhất trí với bản án
sơ thẩm, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm có
thiếu sót nghiêm trọng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, chưa đảm bảo quy
trình tố tụng khách quan theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên
tòa: Nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn đưa ra các lý lẽ, tài liệu chứng
minh cho yêu cầu kháng cáo và trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung kháng cáo
đề nghị hủy bản án sơ thẩm, việc cấp sơ thẩm không đưa bà Trần Thị H (là vợ ông
T) tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là thiếu,
đề nghị HĐXX tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án, Thẩm Phán, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành theo giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đối với nội dung kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm; Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông T.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét