-Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo là nhân viên Ngân hàng SCB cũng như các bị cáo làm việc tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác như các hồ sơ vay vốn, chứng từ chuyển tiền, rút tiền, biên bản ghỉ lời khai người làm chứng và các biên bản hoạt động điều tra, xác minh khác... có đủ cơ sở xác định:
- Trương Mỹ Lan là chủ Công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát cùng nhiều công ty khác như công ty cổ phần tập đoàn đầu tư Vạn Thịnh Phát, công ty cổ phần tập đoàn đầu tư An Đông, công ty cổ phần Tập đoàn Sài Gòn Peninsula, công ty cổ phần đầu tự tài chính Việt Vĩnh Phú... hoạt động theo mô hình tập đoàn trong đó công ty cổ phần Tập đoàn Vạn Thịnh Phát giữ vai trò trung tâm, kiểm soát hoạt động của các công ty còn lại (sau đây gọi là nhóm Tập đoàn Vạn Thịnh Phát).
- Trước khi hợp nhất Ngân hàng SCB, thông qua hình thức nhờ cổ đông đứng tên giúp, Trương Mỹ Lan đã gián tiếp sở hữu cổ phần tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa và Ngân hàng TMCP Sài Gòn (cũ) sau đó dùng chính các cổ phần này để thế chấp đảm bảo cho nhiều khoản vay của nhóm Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và các cá nhân, tổ chức có liên quan tại các ngân hàng nói trên để thực hiện nhiều Dự án bất động sản trong đó có Dự án Times Square và Windsor Plaza.
- Sau khi biết 03 ngân hàng trên mất khả năng thanh khoản buộc phải hợp nhất hoặc bị mua lại, Trương Mỹ Lan đã tiến hành thu mua cổ phần của các ngận hàng nói trên, đưa một số cá nhân như Nguyễn Thị Thu Sương, Trầm Thích Tồn là nhân viên thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát vào giữ các vị trí trọng yếu tại các ngân hàng này để thực hiện mục tiêu hợp nhất 03 Ngân hàng TMCP gồm Đệ Nhất, Sài Gòn và Việt Nam Tín Nghĩa.
- Kế hoạch hợp nhất Ngân hàng SCB được Ngân hàng Nhà nước thông qua và đi vào hoạt động ngày 01/01/2012 theo Quyết định hợp nhất số định số 2716/QĐ-NHNN và Giấy phép số 283/GP-NHNN cùng ngày 26/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Kết quả xác minh, lấy lời khai 22 cá nhân, tổ chức hiện là cổ đông theo danh sách cổ đông do Ngân hàng SCB cung cấp đều khẳng định không biết đứng tên bao nhiêu cổ phần, mua thời điểm nào, giá trị ra sao vì chỉ đứng tên giúp bị cáo Lan, đáng lưu tất cả các cổ đông trên đều là người thân của bị cáo hoặc nhân viên, công ty trong Tập đoàn Vạn Thịnh Phát bao gồm cả 02 con gái của bị cáo. Thậm chí, bị cáo Cao Việt Dũng trình bày tại phiên tòa rằng có nhận chuyển nhượng 36,5 triệu cổ phần SCB từ bị cáo Lan và chưa thanh toán tiền nhưng cũng có tên trong danh sách cổ đông nói trên.
- Thực trạng trên cho thấy tại Ngân hàng SCB có tình trạng số chứng nhận cổ đông, chứng từ thanh toán tiền chuyển nhượng cổ phần mang tính hình thức, không phản ánh đúng bản chất sở hữu của các cổ đông.
- Đối với 28,18% cổ phần do 05 pháp nhân nước ngoài đứng tên sở hữu, quá trình điều tra bị cáo thừa nhận đã mua lại toàn bộ số cổ phần trên mặc dù sau này bị cáo thay đổi lời khai nhưng tình tiết này phù hợp với thực tế từ năm 2020, các cổ đông này không tham dự Đại hội đồng cổ đông mà ủy quyền cho Tạ Chiêu Trung, La Khiết Dinh - Thư ký của bị cáo và một số nhân viên trong Tập đoàn Vạn Thịnh Phát tham dự đại hội. Lời khai này còn phù hợp với tài liệu thể hiện bị cáo Lan là người sở hữu thực sự đối với cổ phần của 05 pháp nhân nước ngoài thu giữ tại chỗ ở của bị cáo (Tòa nhà Sherwood 127 Pasteur, TP.HCM). Tài liệu này cũng phù hợp với 06 sổ chứng nhận cổ phần bản gốc (05 pháp nhân nước ngoài và công ty Việt Vĩnh Phú) do Tống Thị Thanh Hoàng – Phó Tổng giám đốc và Ngô Thị Mỹ Vi – Phó Tổng giám đốc Hành chính – Nhân sự công ty cổ phần tập đoàn Vạn Thịnh Phát tìm thấy tại phòng làm việc của Trương Mỹ Lan tại số 193-203 Trần Hưng Đạo, phường Cô Giang, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và giao nộp cho cơ quan điều tra.
-Như vậy, qua kết quả điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định, tính đến tháng 10/2022, Trương Mỹ Lan đã sở hữu và chi phối 1.394.253.393 cổ phần, chiếm 91,536% vốn điều lệ Ngân hàng SCB. Do đó, quan điểm bào chữa của luật sư và trình bày của bị cáo Lan cho rằng gia đình bị cáo chỉ nắm giữ khoảng 15% cổ phần SCB, số cổ phần còn lại của bạn bè bị cáo nhờ tìm người đứng tên giúp cũng như cổ phần của các cổ đông nước ngoài không liên quan đến bị cáo là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
-Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của tổ chức tín dụng”, có thẩm quyền quyết định các vấn đề trọng yếu của tổ chức tín dụng liên quan đến Điều lệ, bộ máy tổ chức và các hoạt động của tổ chức tín dụng được nêu chi tiết tại khoản 2 Điều 59. Tại khoản 3 Điều này cũng nêu rõ “Quyết định của Đại hội đồng cổ động được thông qua ...khi được số cổ đông đại điện trên 51% tổng số phiếu biểu quyết...chấp thuận...Đối với các quyết định... tại các điểm b, h, p và r khoản 2 Điều này thì phải được .. trên 65% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận...”. Như vậy, với việc sở hữu và chi phối 91,536% vốn điều lệ như đã nêu trên, Trương Mỹ Lan thực chất là chủ Ngân hàng SCB, bị cáo cũng chính là Đại hội đồng cổ đông Ngân hàng SCB, là người quyết định các chức danh quản lý, điều hành tại Ngân hàng SCB. Thực tế mô hình quản trị điều hành tại Ngân hàng SCB thông qua lời khai tại phiên tòa của các bị cáo nguyên là lãnh đạo Ngân hàng SCB cũng như các bị cáo nguyên là cán bộ thanh tra giám sát Ngân hàng SCB cũng đã tái khẳng định điều trên, cụ thể: Trương Mỹ Lan là người chi đạo và quyết định không chỉ đối với hoạt động tín dụng mà bao gồm cả công tác nhân sự, theo đó bị cáo đã quyết định người quản lý, điều hành Ngân hàng SCB như sau:
- Bị cáo Bùi Anh Dũng được bị cáo Lan bố trí vào vị trí Chủ tịch HĐQT,
- Tạ Chiêu Trung được bố trí vào Thành viên HĐQT,
- Võ Tấn Hoàng Văn được bố trí vào vị trí Tổng Giám đốc,
- Trương Khánh Hiền và Trần Thị Mỹ Dung được bố trí vào vị trí Phó Tổng giám đốc;
- các bị cáo Đỗ Thị Nhàn và Lê Thanh Hà tại phiên tòa cũng xác định quá trình thạnh tra tại Ngân hàng SCB các bị cáo nhận thức Trương Mỹ Lan là người điều hành, có vai trò quyết định hoạt động của Ngân hàng SCB.
-Trả lời Hội đồng xét xử, bị cáo Trương Mỹ Lan cũng nhận thức bản thân có tầm ảnh hưởng lớn đối với người quản lý, điều hành Ngân hàng SCB vì là đại diện nhóm cổ đông lớn sở hữu trên 65% vốn điều lệ của ngân hàng này.
-Như vậy, mặc dù không giữ các chức vụ do bổ nhiệm, bầu cử nhưng bằng việc gián tiếp sở hữu 91,536% cổ phần SCB trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng, bị cáo đã trở thành cơ quan có quyền quyết định cao nhất tại SCB và có các nhiệm vụ, quyền hạn được luật định tại khoản 2, khoản 3 Điều 59 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên đã đủ dấu hiệu về chủ thể của tội phạm về chức vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
-Do đó, trình bày của bị cáo cũng như quan điểm bào chữa của các luật sư cho rằng bị cáo không có vai trò gì tại Ngân hàng SCB ngoài danh xưng "Cố vấn Ban hợp nhất” nên không phải chủ thể của tội phạm về chức vụ là không có căn cứ nên Hội đồng xét xủ không chấp nhận.
-Đối với quan điểm bào chữa cho rằng các chức danh quản lý, điều hành tại SCB do Ngân hàng Nhà nước phê duyệt, quyết định, bị cáo Trương Mỹ Lan không phải là người quyết định là không phù hợp với thực tiễn cũng như các quy định pháp luật bởi lẽ tại điểm d khoản 2 Điều 59 Luật các tổ chức tín dụng nêu rõ Đại hội đồng cổ đông quyết định số lượng thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát..bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm...thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát. Đây cũng chính là lý do bị cáo Phạm Thu Phong – Trưởng Ban kiểm soát khi muốn nghi việc phải được sự đồng ý của bị cáo Lan như trình bày của bị cáo Phong tại phiên tòa.
-Ngoài ra, luật sư bào chữa và bị cáo Trương Mỹ Lan còn cho rằng, sau khi tiến hành hợp nhất, bị cáo đã cho SCB mượn 05 tài sản có giá trị lớn để cho vay mới trả nợ cũ các khoản phát sinh trước thời điểm hợp nhất (hay còn gọi là đảo nợ) theo phương án đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:
Việc đảo nợ, tại khoản 2 Điều 9 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nêu rõ: “Các tổ chức tín dụng thực hiện theo quy định riêng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Tuy nhiên, đến ngày 30/12/2016 Ngân hàng Nhà nước mới ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN quy định về nội dung này, cụ thể:
- Điều 8. Những nhu cầu vốn không được cho vay
Tổ chức tín dụng không được cho vay đối với các nhu cầu vốn:
- 5. Để trả nợ khoản nợ vay tại chính tổ chức tín dụng cho vay trừ trường hợp cho vay để thanh toán lãi tiền vay phát sinh trong quá trình thi công xây dựng công trình, mà chi phí lãi tiển vay được tính trong dự toán xây dựng công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật.
Như vậy, cho đến nay “Đảo nợ” không phải hoạt động tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép hoạt động tại các tổ chức tín dụng. Đây cũng không phải phương án cơ cấu nợ mà Ngân hàng Nhà nước đã phê duyệt áp dụng tại Ngân hàng SCB như quan điểm bào chữa của nhiều luật sư tại phiên tòa, cụ thể: Tại văn bản số 869/NHNN-TTGSNG.m ngày 15/11/2012, Ngân hàng Nhà nước đồng ý triển khai kế hoạch cho vay mới nhằm cơ cấu nợ của nhóm khách hàng An Đông – Vạn Thịnh Phát như sau “SCB cho khách hàng có nhu cầu góp vốn, hợp tác kinh doanh để khai thác tòa nhà Windsor Plaza của công ty An Đông và Tòa nhà Sherwood Residence của công ty Vạn Thịnh Phát vay tiển, tài sản đảm bảo là tòa nhà Windsor Plaza. Công ty An Đông và Vạn Thịnh Phát sử dụng tiền nhận góp vốn, thực hiện mua lại các tài sản đảm bảo cho các khoản vay, khoản phải thu của nhóm khách hàng An Đông, Vạn Thịnh Phát tại SCB để các khách hàng này có tiền thanh toán nợ cho SCB”. Theo đó, SCB đã cho 26 khách hàng vay mới tổng cộng 12.984 tỷ đồng/tổng vốn góp 16.214 tỷ đồng, SCB thực hiện thu nợ nhóm khách hàng An Đông – Vạn Thịnh Phát 12.984 tỷ đồng và hoàn trả 11 tài sản đảm bảo cho nhóm khách hàng này với tổng trị giá 14.652 tỷ đồng.
Như vậy, về bản chất Phương án Windsor Plaza là nhằm xử lý chính các khoản nợ xấu của nhóm khách hàng công ty An Đông và công ty Vạn Thịnh Phát, mặc dù bị cáo Lan đưa tòa nhà Windsor Plaza vào đảm bảo khoản vay 12.984 tỷ đồng nhưng bị cáo cũng đã rút ra rất nhiều tài sản của chính nhóm bị cáo đã sử dụng thế chấp cho các khoản vay trước đó như:
- 110 triệu cổ phần công ty An Đông;
- 13.340.000 cổ phần công ty Bông Sen;
- 122.357 cổ phần công ty Peninsula;
- 123.291.363 cổ phần SCB;
- một phần tòa nhà Sherwood 127 Pastuer;
- căn nhà 17 Đông Du...
với tổng trị giá 14.652 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với số tiền SCB giải ngân cho vay mới.
-Tương tự, các phượng án Times Square, phương án Chợ Vải, dự án 289 Trần Hưng Đạo, dự án 5-2 thì tài sản SCB hoàn trả cho bị cáo đều cao hơn giá trị các khoản vay mới. Cũng cần phân tích thêm, trước khi SCB hợp nhất, tòa nhà Times Square đã thế chấp để đảm bảo cho khoản vay 1.479 tỷ đồng của 03 công ty (công ty cổ phần Quảng Trường Thời Đại Việt Nam sau này là công ty Times Square Việt Nam; công ty cổ phần đầu tư Bảo Hoàng và công ty cổ phần đầu tư Nhân Hòa) tại SCB; nhóm khách hàng công ty Vạn Thịnh Phát đã phát sinh dư nợ tại SCB (cũ) và Ngân hàng Tín Nghĩa, cụ thể:
-Tại thời điểm 29/02/2012 dư nợ của các khách hàng liên kết, hợp tác góp vốn vào các dự án do công ty Vạn Thịnh Phát, công ty An Đông, công ty Đại Trường Sơn (sau này đổi tên thành công ty Peninsula), công ty Quảng Trường Thời Đại làm chủ đầu tư...tại SCB là 33.543 tỷ đồng, chiếm 48,78% tổng dư nợ tín dụng tại SCB (Theo Công văn 13/NHNN-TGS-SCB.m ngày 05/3/2012 của Tổ giám sát tại SCB – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
Như vậy, bị cáo Lan cho rằng chỉ cho SCB mượn tài sản mà không có nhu cầu vay vốn và 190 các tài sản này chưa thế chấp ở đâu cũng như quan điểm của các luật sư cho rằng SCB thực hiện cho vay đảo nợ là phương án tái cơ cấu đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt là hoàn toàn không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
-Tái cơ cấu ngân hàng là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của Tái cơ cấu kinh tế - Một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước từ những năm 2011, với mục tiêu:
- Lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng;
- xây dựng hệ thống ngân hàng có đủ sức cạnh tranh trong và ngoài nước;
- cấu trúc lại cơ cấu hoạt động của hệ thống ngân hàng để bảo đảm cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế một cách hợp lý...
-Theo đó, các tổ chức tín dụng có tình hình tài chính khó khăn buộc phải tái cơ cấu bằng nhiều hình thức trong đó có hợp nhất, sáp nhập dưới sự giám sát, chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của người gửi tiền. Nội dung chính của tái cơ cấu được Ngân hàng Nhà nước đặt ra là: Củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng mà trọng tâm là thanh khoản một số ngân hàng có vấn đề; lành mạnh hóa tài chính của các ngân hàng thương mại mà trọng tâm là xử lý nợ xấu và minh bạch hóa tài chính; tái cơ cấu tổ chức, hoạt động và quản trị hệ thống ngân hàng.
-Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận
- Bị cáo Trương Mỹ Lan phạm các tội “Tham ô tài sản”, “Đưa hối lộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 353, Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- Các bị cáo Đinh Văn Thành, Võ Tấn Hoàng Văn, Tạ Chiêu Trung phạm tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bố sung năm 2017 và tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- Bị cáo Bùi Anh Dũng phạm các tội “Tham ô tài sản” và “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 353; Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Trương Khánh Hoàng, Trần Thị Mỹ Dung, Hồ Bửu Phương, Nguyễn Phương Anh, Đặng Phương Hoài Tâm, Trương Huệ Vân, Dương Tần Trước phạm tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Nguyễn Thị Thu Sương, Uông Văn Ngọc Ản, Võ Thành Hùng, Trầm Thích Tồn, Trần Thuận Hòa, Lê Khánh Hiền, Phạm Văn Phi, Võ Văn Tường, Phạm Mạnh Cường, Võ Triệu Lân, Nguyễn Lâm Anh Vũ, Chu Nap Kee Eric (Chu Lập Cơ), Nguyễn Anh Phước, Nguyễn Huỳnh Lan Chi, Nguyễn Thị Phương Loan phạm tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- Các bị cáo Chiêm Minh Dũng, Nguyễn Văn Thanh Hải, Hoàng Minh Hoàn, Bùi Nhân, Diệp Bảo Châu, Nguyễn Cửu Tính, Đỗ Phú Huy, Khổng Minh Thế, Trần Hoàng Giang, Từ Văn Tuấn, Mai Hồng Chín, Mai Văn Sáu Nhở, Lương Thị Hồng Quế, Lê Anh Phương, Phan Tấn Khôi, Lưu Chấn Nguyên, Hồ Bảo Ngọc, Nguyễn Anh Thép, Nguyễn Ngọc Tú, Phạm Thế Quảng, Huỳnh Thiên Văn, Bùi Đức Khoa, Nguyễn Thị Khánh Vân, Trần Thị Kim Chi, Nguyễn Phi Long, Đặng Quang Nguyên, Cao Việt Dũng, Nguyễn Thanh Tùng, Đào Chí Kiên, Lê Văn Chánh, Bùi Ngọc Sơn, Lê Huy Khánh, Hồ Bình Minh, Trần Thị Kim Ngân, Trần Tuấn Hải, Trần Văn Nhị, Đỗ Xuân Nam, Lê Kiều Trang phạm tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bố sung năm 2017.
- Bị cáo Đỗ Thị Nhàn phạm tội “Nhận hối lộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Thị Phụng, Bùi Tuấn Khoa, Vương Đỗ Anh Tuấn, Trần Văn Tuấn, Lê Thanh Hà, Nguyễn Văn Thùy, Nguyễn Tuấn Anh, Vũ Khánh Linh, Trương Việt Hưng, Nguyễn Duy Phương, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Phi Loan, Võ Văn Thuần, Phan Tần Trung, Nguyễn Tín phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Các bị cáo Phạm Thu Phong, Lưu Quốc Thắng, Nguyễn Văn Du phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Bị cáo Nguyễn Cao Trí phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, như Viện kiểm sát nhân dần Tối cao truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Tội phạm do bị cáo Trương Mỹ Lan và các đồng phạm gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, trong khoảng thời gian từ 01/01//2012 đến tháng 07/10/2022 bị cáo đã chỉ đạo các lãnh đạo, nhân viên thuộc Ngân hàng SCB và các công ty thuộc Hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát tạo lập hàng ngàn hồ sơ vay vốn khống, thực hiện cấp tín dụng trái với quy định của Ngân hàng Nhà nước đến nay còn dư nợ, không có khả năng thu hồi, gây thiệt hại đặc biệt lớn cho Ngân hàng SCB.
-Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS 1999)
-Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 (BLHS 2015, 2017, 2024, 2025)
-Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ. Ban hành: 30/12/2020. Hiệu lực: 15/02/2021
-Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Sửa đổi, bổ sung năm 2021, 2024 -Luật Thi hành án hình sự năm 2019:
| -Quyết định hợp nhất số 2716/QĐ-NHNN ngày 26/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. (
-Thông tư số 39/2016/TT-NHNN
-Bộ luật Dân sự năm 2015 : - Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Sửa đổi năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024: |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét